[ Phim ] Mẹ Chồng

Trailer  phim Mẹ Chồng

Bối cảnh phim có rất nhiều người chửi, vì “méo” phải Nam Bộ những năm 30-60 thế kỷ trước. Nhưng với tui thì bối cảnh phim rất ổn, vô cùng ổn, thậm chí là tuyệt đẹp. Bối cảnh phim là một thời không nào đó “giống giống” Nam Bộ thôi, và chẳng liên quan đến lịch sử văn hóa Việt Nam trong hiện thực. Vì có thời nào người Nam Bộ mặc quần áo hoa lá hẹ như mấy chế trong phim đâu, và cách xưng hô cũng không loạn giữa Cả với Hai như vậy, và cách phát âm cũng chẳng phải người Nam Bộ.

Cho nên, làm ơn “open your mind” khi xem phim, và đừng quên gắn não. Vì phim có bối cảnh không xác định, cách dẫn truyện hơi rối, nhiều tình tiết nhỏ nếu bỏ qua sẽ không hiểu gì. Và phim cũng “méo” có cảnh nóng, muốn xem cảnh nóng ở nhà kiếm AV xem đi nha, mấy người ra rạp tìm xem cảnh nóng là rảnh dữ lắm luôn á.

Trang phục của phim khá là đẹp và hơi sến súa. Nữ chính được đặc biệt ưu ái với vô số thiết kế độc quyền lấy rắn làm biểu tượng. Mỗi một người phụ nữ trong phim là một màu sắc nói lên đôi chút về tính cách của họ, nhưng thiết kế chưa làm được đến nơi đến chốn vì còn lộn xộn. Trong phim có mấy cảnh các nhân vật chọn trang phục khá buồn cười, ví dụ như việc gái có chồng hẹn hò với trai giữa đêm khuya mà mặc nguyên bộ đồ hồng lấp lánh, hay đi rình mà mặc nguyên bộ áo vàng đính kia sa hột lựu, cái khăn tay của nữ chính xài 20 năm như một…

Chuyển cảnh của phim đi theo bốn mùa với mỗi mùa là một câu thơ, hoa lá hẹ nhìn cũng đẹp lắm, nhưng nói thiệt là thơ nhạt nhẽo và hời hợt kinh dị, “méo” liên quan đến nội dung phim. Nếu sử dụng thơ của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan… hay ai đó còn hay ho và ý nghĩa hơn. Nói gì chứ thơ ca Việt Nam thời phong kiến về thân phận phụ nữ là đầy ra không có thiếu.

Kỹ xảo của phim cực kỳ tệ, tệ đến mức không tin nổi. Đập vào mắt người xem ngay đàu phim là hình ảnh cái cây giả tạo giữa đồng ruộng cạnh mấy con đường quê, và buồn cười nhất là cảnh mùa đông, chiếu cái cây trơ trụi lá, còn cái background rừng núi phía sau thì xanh mơn mởn. Rồi tới mấy con rắn, bề ngang thì mập ú ù, bề dài thì có một khúc bằng cánh tay. Tui quỳ, rắn mập như vậy thì nó phải dài lắm có biết hay không. Thiệt là hết nói nổi.

Góc quay không có gì đặc sắc, cũng không có gì phải phàn nàn, nhưng nếu nói là mang tính nghệ thuật cao thì chưa đạt tới, chỉ vừa đủ đẹp vậy thôi, đủ kể được chuyện phim một cách chỉn chu. Cảnh đồng quê xa xa là rừng núi rất đẹp, nếu không có cái cây giả tạo vì kỹ xảo dở tệ đã nói. Tui đặc biệt thích cảnh nữ chính cùng người tình ngồi bên bờ hồ trong đêm trăng, xa xa là núi đồi chập chùng, khá là ma mị.

Nhạc phim khá là phù hợp, đặc biệt là đoạn nữ chính giết chết tình nhân kiêm tay sai của mình, còn uất ức và bi kịch thảm thống. Còn mấy bài hát theo giai điệu dân ca thì không có gì để nói, nó vốn là như vậy rồi. Nhưng đáng tiếc cái đoạn hát cải lương lại không có hồn.

Nội dung phim xoay quanh gia đình họ Huỳnh, nữ chính là Ba Trân. Phim khá là lằng nhằng vì số lượng nhân vật nhiều quá, nhưng chắc nội dung phim có thể tóm tắt trong câu “ai chơi ngải rắn giỏi hơn” – vì trong phim có tới 2 con rắn, và câu “ai đẻ giỏi hơn” – vì phim cứ nhắc hoài câu “bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại”.

Cảm thấy phim không nhấn vào mâu thuẫn giữa mẹ chồng – nàng dâu, mà nhấn vào việc “nối dõi tông đường”, mà cái này chỉ là một trong những nguyên nhân gây mâu thuẫn, lại không phải là nguyên nhân chính. Bởi vì bản chất mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu là luôn luôn mâu thuẫn, cho dù nàng dâu có sinh được hay không.

Xét theo khía cạnh nào đó, mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu tương tự như mối quan hệ mẹ ghẻ – con (gái của) chồng, cả 2 đều xoay quanh một người đàn ông và vấn đề tài sản. Nói đến đây nhớ cái poster phim, nhìn cứ như  hình ảnh hoàng hậu mẹ ghẻ và cái gương thần trong “Bạch Tuyết và bảy chú lùn”. Cho nên, tên phim cũng có thể đổi thành “Ba Trân và những người bạn”

Phim có một điểm khá thâm là, mặc dù mọi mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu đều vì “nối dõi tông đường”, tức là nhấn mạnh vào quan điểm “trọng nam khinh nữ – nhất nam viết hữu thập nữ viết vô – nhà họ Huỳnh chỉ cần cháu không cần con dâu”, và người phụ nữ – con dâu trong phim chỉ là cái máy đẻ không hơn không kém. Nhưng, nội dung phim lại cho thấy mọi quyền lực trong gia đình lẫn xã hội đều là người phụ nữ nắm lấy, tất nhiên là sinh con mới có quyền, và nam giới chỉ là đồ vô tích sự, hoặc làm việc theo sự chỉ bảo của phụ nữ.

Và bài học cay đắng và buồn cười nhất của phim là, mọi đau khổ của những người phụ nữ đều do những người phụ nữ cố tình tạo ra, nghĩa là phụ nữ tự làm khổ nhau, chứ nam giới chẳng có ai nhúng tay vào.

Diễn xuất của Thanh Hằng trong vai Ba Trân rất xuất thần, gánh và cân hết team. Những người khác diễn tròn vai, không xuất sắc. Tiết Cương dạo này diễn giả tạo và dở hơn hẳn những năm mới nổi. Lan Khuê diễn dở thôi rồi, điều này rất đáng tiếc vì nhân vật Tư Thì là một hình tượng thú vị, nhưng ngoại hình Lan Khuê rất hợp vai, bởi vì nhìn chế không có chút phồn thực nào, lại còn già và xấu hơn vợ hai Midu nên thằng chồng ngu ngu hắt hủi là phải.

Nhân vật nhiều và mỗi người là gương mặt đại diện cho những thể loại người trong xã hội, không ai giống ai, đây là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của phim. Điểm mạnh vì nhân vật không ai giống ai, không một màu hay lặp lại. Điểm yếu vì với thời lượng phim ngắn như vậy, không thể khai thác hết các nhân vật, dẫn đến sự qua loa và hời hợt, đặc biệt đối với nhân vật Tư Thì.

Đời F0

Bà Hai Lịnh:  mẹ chồng của Ba Trân, từng nắm trong tay mọi quyền lực, nhưng sau đó bán thân bất toại, vì lúc hay tin con trai chết, bà đập phá rồi té ngã. Ba Trân không cứu bà, vì hận câu nói “cây độc không trái, gái độc không con”. Suy cho cùng đây cũng là cái nghiệp do chính bà tạo ra.

Đời F1

– Ba Trân: nữ chính của phim, với tui thì nhân vật này được xây dựng như vậy là trọn vẹn, không thiếu cũng không thừa. Tất cả mọi thứ mà cô phải chịu là do cô tự mình lựa chọn và tự mình tạo ra, không đáng giận cũng chẳng đáng thương. Nhân quả cả thôi. Từ chuyện cô làm mất đứa con, rồi luyện ngải rắn, rồi không cứu mẹ chồng, rồi tàn nhẫn với con dâu, rồi giết một người thật lòng yêu thương mình, làm hết mọi chuyện vì mình, thì cái kết của cô đã được định đoạt.

– Bảy Loan: con dâu thứ hai của Hai Lịnh, một người phụ nữ cam chịu và nhẫn nhục, nhưng phim “méo” giải thích vì sao cô như vậy, đây là một điểm trừ. Ví dụ như cô mang ơn nhà họ Huỳnh, cứu mạng cô hoặc cha mẹ anh em cô chi đó, thì người xem còn hiểu được vì sao cô không tự giải thoát cho mình và con trai, còn dạy con gánh vác nhà họ Huỳnh, trong khi mình chẳng được lợi lộc gì và cứ sống như cái bóng???

Đời F2

Hai Phước: con trai của Ba Trân, bị ngu ngu từ nhỏ, vì lúc Ba Trân mang thai bị mẹ chồng xô té, xém sảy thai, nên Hai Phước thân thể trưởng thành mà đầu óc con nít, nhưng thấy gái đẹp thì mê và biết cách làm vợ có bầu (???). Và xem đến cuối phim cũng không biết Hai Phước là con của chồng Ba Trân, hay là con của ông nhân tình (???)

Ba Khiêm: con trai của Bảy Loan, phát triển bình thường, được ăn học nhưng bản chất vẫn ngu ngu, đúng kiểu đám trẻ trâu bốc đồng bây giờ qua 2 hành động, nghỉ học 3 tháng để tìm con bồ mất tích và dẫn người về cướp kho lúa của gia đình ở cuối phim.

Tuyết Mai: con dâu thứ hai của Ba Trân, trẻ trâu có chút học thức, cái miệng tài lanh, đầu óc bã đậu, chuyên mặc đồ nổi, và hành động ngu xuẩn thể hiện qua việc nắm được bằng chứng mẹ chồng lăng loàn và đi uy hiếp thẳng mặt. Lúc còn đi học, cô và Ba Khiêm yêu nhau. Nhưng cha vướn lao lý vì giết quan Tây, mẹ tức thổ huyết chết, phải lấy chồng kiếm tiền mướn luật sư cãi cho cha, nên về làm dâu nhà họ Huỳnh.

– Tư Thì: con dâu cả của Ba Trân, nhân vật tui cảm thấy là thú vị nhất phim.

Thân thế của Tư Thì không được nói rõ, cảnh về làm dâu nhà họ Huỳnh của chế cũng không xuất hiện, nhưng qua vài tình tiết có thể đoán chế xuất thân từ gia đình tá điền nghèo khó, kết hôn với Hai Phước là kiểu tảo hôn “bồng bồng cõng chồng đi chơi”, lớn tuổi hơn chồng khá nhiều, về nhà họ Huỳnh khá sớm, để chăm sóc cho thằng chồng ngu ngu từ lúc nhỏ, nên bị chồng kêu bằng “chị” vì “vừa già vừa xấu”, nhưng bản chất chế rất thông minh nguy hiểm và là boss trùm của phim.

Tư Thì xuất hiện trong mọi cảnh phim, vì vậy có thêm biệt danh Tư Rình, Tư Lầy và Tư Chỉnh Kiềng. Thật ra, chi tiết chỉnh cái kiềng bạc đeo trên cổ Tư Thì khá quan trọng, không xuất hiện ngay đầu phim, mà từ lúc chế bị chồng hắt hủi và Tuyết Mai về làm dâu. Bởi vì cái kiềng đó chính là vật gia bảo, bị Tư Thì ăn cắp, vụ này được tiết lộ ở cuối phim, nhưng không rõ ràng, và đây là hạn chế của phim, vì plot twist chỗ này không đủ tinh tế, khiến người xem khó hiểu, dù Tư Thì chỉnh kiềng chắc cũng chục lần, cảnh nào chế xuất hiện là chế chỉnh kiềng. Với lại, trang sức của chế toàn bằng bạc, kiềng cổ và vòng tay, bạc có tác dụng trừ tà trừ độc. Chế tự trừ cho mình thôi, vì chế bỏ ngải hết cả nhà họ Huỳnh rồi.

Nếu Ba Trân chỉ giết hại những người uy hiếp và đàn áp mình, tức là những kẻ có thù với mình, thì Tư Thì là loại giết sạch, tàn sát không thương tiếc. Ban đầu tui cũng tự hỏi sao chế ác vậy, thù hận nhà họ Huỳnh ghê vậy, nhưng chế xuất thân tá điền nha, bản chất mối quan hệ tá điền – địa chủ cũng mang hận thù truyền kiếp kiểu mẹ chồng – nàng dâu. Cho nên, không cần vụ bị mẹ chồng hành hạ, chồng ngu hắt hủi, chỉ cần sự tủi thân cho phận tá điền của chế, cũng đủ chế giết sạch nhà họ Huỳnh. Nếu hỏi chế có tình cảm với chồng không, tui nghĩ là có, nhưng không đủ, nó đã bị xóa sạch từ lúc chồng chế nói “vợ Tuyết Mai đẹp”.

Có lẽ đạo diễn và biên kịch sợ khai thác nhân vật Tư Thì nhiều quá sẽ mất độ bất ngờ của plot twist, nhưng vì không khai thác đến nơi đến chốn, nên nội dung phim mới thành ra lủng củng và rời rạc. Nếu Tư Thì có nhiều đất diễn hơn, được giới thiệu đầy đủ hơn, và người khác đóng chứ không phải Lan Khuê, thì phim sẽ hay hơn.

Tóm lại, bản thân tui thấy phim khá là ổn, ngoại trừ mấy thứ không ổn đã nêu bên trên. Cơ bản là tui thích hình tượng chế Tư Thì, nên mới có hứng thú viết review, và lâu lắm mới có một phim Việt Nam khiến tui phải động não suy nghĩ như vậy.

Advertisements

Tính cách người cai trị trong lịch sử Việt Nam – Vương Trí Nhàn

Nguồn: Nghiên cứu Lịch Sử

Được làm vua thua làm giặc, kẻ võ biền chiến thắng tự dành cho mình tính chính danh trong việc quản lí đất nước. Cậy là có công cứu nước, họ buộc cộng đồng mãi mãi mang ơn và tự cho mình có toàn quyền bóc lột đàn áp dân chúng.

Người Trung Hoa rất thông thạo về các danh nhân của họ. Sự ham mê viết về danh nhân kéo dài từ thời Tư Mã Thiên đến ngày nay.

Sách 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc (bản dịch ra tiếng Việt của Nguyễn Văn Dương 2002) phân loại nhân vật lịch sử như sau.

Chương I, dành cho các nhân vật ngoại hạng, như Khổng Tử, Lão Tử, Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Đông.

Đặc biệt cũng được coi là ngoại hạng, có Từ Quang Khải, chỉ làm quan tới Thượng thư bộ Lễ, song lại chuyên về nghiên cứu khoa học. Ở một nước có tinh thần dân tộc rất cao, đóng góp chính của ông lại là hấp thu nền văn hóa phương Tây.

Chương II, các vị đế vương các lãnh tụ vĩ đại, trong đó xếp cả Lưu Bang, Hán Cao Tổ, Võ Tắc Thiên, sau đó là Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch.

Chương III, các nhà tư tưởng v.v…

Chương IV , các nhà văn nhà thơ.

So với các sách khác, sách này có thêm có phần phụ lục về 10 đại hôn quân bạo chúa và bề tôi gian nịnh, bao gồm vua Trụ, Tùy Dạng Đế, Từ Hy thái hậu, Tần Cối, Đổng Trác và Viên Thế Khải…

Cùng cách làm vậy, trong ngăn lịch sử đương đại ở các hiệu sách Trung quốc, người ta đã bầy những cuốn viết về mấy người tạm gọi là bạo chúa đương đại  như Khang Sinh truyện, Giang Thanh truyện…

Tôi thấy có lẽ phải đi sâu thế mới gọi là làm sử.

Bởi viết lịch sử không chỉ có nghĩa là tìm ra những tấm gương để người đời noi theo. Lịch sử còn hấp dẫn và cần thiết cho người ta qua việc miêu tả những nhân vật đã có ảnh hưởng tới sự vận động của xã hội dân tộc thời đại cả theo chiều thuận lẫn theo chiều nghịch.

Tôi ước ao có người nào đó khi viết sử sẽ đi vào cuộc đời cả những bạo chúa và bề tôi gian nịnh trong lịch sử VN. Chắc chắn các nhân vật này ở VN khác nhiều so với những người cùng loại bên Trung quốc.

Tôi thử tìm hiểu một số trường hợp trong sử Việt

I/ Trường hợp bạo chúa Lê Long Đĩnh 

Một tính cách bệnh hoạn

Sách Đại Việt Sử ký toàn thư ghi tóm tắt

NGỌA TRIỀU HOÀNG ĐẾ Tên húy là Long Đĩnh, lại có tên là Chí Trung, con thứ năm của Đại Hành ở ngôi 4 năm, thọ 24 tuổi (986-1009) băng ở tẩm điện. Vua làm việc càn dỡ giết vua cướp ngôi, thích dâm đãng tàn bạo, muốn không mất nước sao được?

Hồi  học tiểu học, đọc Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, bọn tôi đã ghi sâu vào đầu óc chi tiết ông vua này sở dĩ gọi là ngọa triều hoàng đế vì hoang dâm vô độ, phải nằm thiết triều. Lại thấy nói là ông ta tàn ác, khi ăn mía thường đặt tấm mía lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh thoảng giả vờ nhỡ tay để dao chạm vào đầu nhà sư, thấy máu chảy lênh láng thì cười vui sướng.

Đại Việt sử ký toàn thư kể chi tiết hơn:

Mậu Thân, 1008 ,Vua thân đi đánh hai châu Đô Lương , Vị Long, bắt được người Man và vài trăm con người, sai lấy gậy đánh, người Man đau qúa kêu gào, nhiều lần phạm tên húy của Đại Hành, vua thích lắm. Lại tự làm tướng đi đánh Hoan Châu và châu Thiên Liễu, bắt được người thì làm chuồng nhốt vào rồi đốt.

Một đoạn khác

Vua tính hiếu sát, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt, để cho lửa cháy gần chết, hoặc sai kép hát người Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xẻo từng mảnh, để cho không được chết chóng. Người ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: “Nó không quen chịu chết”. Vua cả cười.

Và đoạn sau:

Đi đánh dẹp bắt được tù thì giải đến bờ sông, khi nước triều rút, sai người làm lao dưới nước, dồn cả vào trong ấy, đến khi nước triều lên, ngập nước mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, người rơi xuống chết. Vua thân đến xem lấy làm vui.

Có lần vua đi đến sông Ninh , sông ấy nhiều rắn, vua sai trói người vào mạn thuyền , đi lại giữa dòng muốn cho rắn cắn chết. Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay vua cầm dao chọc tiết trước, rồi mới đưa vào nhà bếp sau.

Hoặc nhân yến tiệc, giết mèo cho các vương ăn, ăn xong lấy đầu mèo giơ lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích.

Nói ông vua này có tính cách một người tàn ác còn là đơn giản.

Sự tàn ác ở đây kèm theo tất cả đặc điểm của một kẻ bệnh hoạn về tâm lý. Cố ý tổ chức ra sự đau khổ ( buộc người cho rắn cắn). Thích quan sát ngắm nghía sự đau khổ đó như thưởng thức một cảnh đẹp.

Niềm vui thú bệnh hoạn này chắc chắn có ở nhiều kẻ thống trị khác, nhưng sách sử ở ta ít chép, tôi tạm lấy ra một đoạn sử Tầu.

Trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc nói trên,  đoạn nhắc tới Trụ Vương  kể ông ta có một hình phạt gọi là pháo lạc.

Sai đặt một trụ đồng trên lửa đỏ.

Lại sai bôi mỡ trên đó rồi cho tội nhân đi trên, người nào người nấy trước sau đều ngã xuống bể than đỏ rực, giãy giụa kêu khóc cho đến chết cháy.

Trụ Vương làm vậy vì ái phi của ông là Đát Kỷ rất thích được ngắm khung cảnh đó.
Trong tâm lý học hiện đại, có người bảo đây là một niềm vui liên quan tới chứng sadism (ác dâm, bạo dâm).

Về phần Lê Long Đĩnh, không phải là vua không hiểu hành động của mình là phản tự nhiên ( “nó không quen chịu chết”), nhưng có vẻ như ông ta xem đó là cách tự khẳng định con người của kẻ có quyền.

Quái lạ nhất và phản tự nhiên nhất là việc Long Đĩnh thích người ta chửi thẳng vào tên người đã đẻ ra mình.

Tại sao ở ông ta lại hình thành thói quen đó, hiện tôi chưa giải thích được. Chỉ tạm thời hãy ghi nhận là chắc nó có chút liên hệ với loại tính cách lưu manh trong các làng quê VN cũ, mà Nam Cao từng nhắc tới trong Chí Phèo :

Ngay ở đoạn mở đầu của truyện ngắn, tác giả đã viết về một cơn say đồng thời là một cơn chửi của anh Chí. Đối tượng của cái mạch chửi ấy được kê ra lần lượt như sau:

1/chửi trời
2/ chửi đời
3/ chửi cả làng Vũ Đại.
Sau cùng , tới điểm dừng lại
4/ chửi đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn.

Nghiên cứu về bộ máy thống trị và tầng lớp thống trị phải là một bộ phận của lịch sử
Trong bài báo Thứ bậc Việt Nam trên bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu: Báo động đỏ in trên Tia sáng 27/07/2012 , tôi thấy người ta đưa ra một nguyên tắc: trí tuệ của một cộng đồng trước tiên là ở cách tổ chức nhà nước và xã hội của cộng đồng đó .

Chứ không phải trí tuệ một dân tộc chỉ hàm ý trong tập hợp đó có nhiều người làm toán giỏi hoặc lý luận giỏi như nhiều người ở ta vẫn hiểu.

Các sách nghiên cứu về văn hóa Trung quốc mà tôi đọc được đều có phần mở đầu nói về văn hóa quyền lực của nước này.

Các bộ lịch sử cổ ở ta cũng chép khá kỹ về việc triều chính tức là việc quản lý xã hội mà nói theo thuật ngữ xưa nay vẫn dùng tức là việc cai trị .

Chỉ đến các bộ lịch sử sau 1945 điều này mới được chép một cách sơ sài nếu không nói là lảng tránh. Có vẻ như để nhấn mạnh rằng cái chuyện cai trị là cũ rồi, thời nay  không ai cai trị ai cả.

Sử viết trong 30 năm đất nước mải làm chiến tranh thì viết như thế là có lý. Để làm cho mọi người có ảo tưởng rằng mình là chủ của xã hội này rồi hết lòng mà chiến đấu.

Nhưng nay đã sang thời lo làm ăn kinh tế, và rộng hơn là tổ chức lại xã hội, lẽ nào lại không quay về nghiên cứu quy trình cai trị của các thời trước, từ đó rút ra quy luật soi sáng việc tìm hiểu thời nay.

Trong tình hình phát triển của khoa học xã hội hiện đại, nhân học đang đóng vai trò trung tâm.

Theo tinh thần ấy, chắc chắn các công trình nghiên cứu lịch sử cai trị xã hội ở VN, ít ra phải gồm hai bộ phận:

– cách tổ chức bộ máy và nguyên lý vận hành của bộ máy.

– con người hoạt động trong các bộ máy đó.

Trong phần tiếp theo đây, tôi sẽ nói có chút kỹ hơn về việc làm vua của Lê Long Đĩnh.
Lần này hãy tạm dừng lại ở phần tạm gọi là tính cách cá nhân của nhân vật này.

Trở lại chuyện nêu lên lúc đầu. Lâu nay, chẳng những không nghiên cứu về các loại hôn quân bạo chúa mà các nhà làm sử VN cũng không hề tính chuyện nghiên cứu về cá nhân con người thuộc về tầng lớp cầm quyền này nói chung.

Tại sao, lý do một phần là vì người ta cho rằng nhân dân thì bao giờ cũng tốt đẹp, còn giai cấp thống trị – mà bao giờ cũng bị gán cho nhãn hiệu tàn bạo xấu xa – thì không phải là người VN, họ không tiêu biểu cho cộng đồng người Việt nói chung.

Có biết đâu, trong xã hội học thời nay, bên cạnh tầng lớp trí thức, lớp người quản lý nắm giữ quyền lực điều hành xã hội luôn luôn được coi là bộ phận đặc tuyển, có tính chất tinh hoa. Cần nghiên cứu để qua họ thấy chân dung của cả cộng đồng nói chung.

Sẽ có người hỏi ừ thì nghiên cứu về việc cầm quyền là cần chứ moi móc vào những thói xấu trong tâm lý và đi vào sinh hoạt hàng ngày của người ta làm gì?

Để trả lời, xin chép lại một chi tiết nữa trong đoạn nói về Lê Long Đĩnh ở các sách sử.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi Mỗi khi ra chầu, [vua] tất sai bọn khôi hài chầu hai bên, vua có nói câu gì thì người nọ người kia nhao nhao pha trò cười, để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính.

Tức là nhà vua coi việc triều chính chỉ là một thứ trò đùa, quan lại dưới quyền chỉ là một lũ tay sai mạt hạng.

Cách chủ trì việc nước như thế chắc chắn chỉ có ở một kẻ hỗn loạn nhân cách như đã dẫn ở trên.

Cơ sở phương pháp luận

Muốn phác họa bộ mặt quyền lực ở VN, lẽ ra anh phải đi vào những điển hình như Lê Thánh Tông chứ sao lại dừng lại ở một “nhân vật tiêu cực” như LLĐ? Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn nhắc lại một nguyên tắc của nghiên cứu khoa học hiện đại. Là người ta không dừng lại ở cái trung bình, nhất là cái đa số tức cũng là cái phổ biến. Mà lại lấy cái thiểu số – cái đột biến – cái bên ngoài hình như là ngoại lệ chứ không phải thông lệ — làm đối tượng.

Như sau đây sẽ thấy, trong Lê Long Đĩnh cũng mang những đặc điểm chủ yếu của tầng lớp thống trị xã hội thời đầu lập quốc. Do đa số xuất thân từ thủ lĩnh quân sự, nên họ chẳng có bài bản gì trong quản lý xã hội, chỉ có lấy bạo lực để cai trị. Về phương diện này thì tính cách điển hình của vị vua độc đáo LLĐ hoàn toàn được bảo đảm.

Giải thích thêm về tính cách LLĐ

a/ Trong bài trước, ta đã thấy LLĐ bộc lộ tính cách tàn bạo trong việc xử tội. Nhưng vì sao có tính cách ấy? Việc này có từ thân sinh ông ta – Lê Hoàn.

Sách Lịch sử Việt Nam thuộc Tủ sách Đại học sư phạm, dẫn lại lời của sứ nhà Tống là Tống Cảo, cho thấy Lê Hoàn xử tội rất tùy tiện

“tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết đi, hoặc đánh từ 100 roi đến 200 roi. Bọn giúp việc ai hơi có điều gì làm phật ý cũng bị đánh từ 30 đến 50 roi, truất làm tên gác cổng, khi hết giận lại gọi về cho làm chức cũ” ( LSVN của ĐHSP in 1970, nxb Giáo dục, q.I, tập II, tr 89).

Trước đó Đinh Bộ Lĩnh cũng có tính cách tương tự. Sách Lịch sử VN từ nguồn gốc đến thế kỷ XI X của Đào Duy Anh chép có lần một sứ quân đánh ĐBL, ông phải đưa con là Đinh Liễn làm con tin. Bên kia buộc Liễn lên ngọn cây rồi bảo ĐBL nếu không hàng sẽ giết Liễn. ĐBL không chịu, cho thói quyến luyến con cái là tính khí đàn bà. Liền sai mười tay nỏ chờ sẵn, nếu bên kia cứ quyết làm sẽ bắn chết luôn Liễn. Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn thấy Đinh Bộ Lĩnh đã cương quyết và nhẫn tâm như thế, giết Liễn cũng vô ích, thả Liễn và rút quân về.

b/ Bên cạnh chất tàn nhẫn, LLĐ còn bị coi là người hoang dâm vô độ.

Nhưng đọc sử được biết Lê Hoàn cũng sống hoang phí đến mức có tội. Cả Đại Việt sử ký toàn thư lẫn Đại Việt sử ký tiền biên (ĐVSKTB ) đều chép Lê Hoàn cho xây cung điện dát vàng dát bạc.

Và Lê Hoàn cũng ham chơi. Khái quát về Lê Hoàn, sách ĐVSKTB tr 178 chép:

Vua anh minh quả quyết nhiều mưu trí giỏi dụng binh[… ]. Song tính nghiêm khắc tàn nhẫn, ưa người nịnh hót[… ].Quần áo phần nhiều chuộng lụa hồng, mũ thì trang sức bằng châu báu. Dinh thự vua ở xa hoa tráng lệ nhưng cảnh thự của các quan, doanh trại của sáu quân lại chật hẹp mộc mạc. Sứ Tống mỗi lần sang ta thường chê cười về điều đó.

Cũng sách trên ở tr. 173 viết:

Năm 992, vua ngự điện Càn Nguyên xem đèn. … nếu trong cung lợp ngói bạc, thì khi vui chơi, trên thuyền vua cho kết núi tre.

Chắc trong thực tế đây là việc rất xa hoa nên một trong những tác giả sách trên là Nguyễn Nghiễm bình luận Lửa ham muốn bùng lên mà xương tủy dân đã kiệt. Thế mà không tự xét đức hạnh còn có tính trẻ con..

Tóm lại do chỗ gần với Lê Hoàn và cả ĐBL — nên LLĐ hiện ra như một mẫu người đã hình thành. Các cá tính của ông ta không chỉ tiêu biểu cho một vị vua thời mạt vận mà là một tính cách phổ biến với các người đứng đầu quốc gia trong thời kỳ triều chính mới thành lập.

Một nền cai trị hoang dại

Sự tàn bạo của các vua chúa lúc này mang cả vào trong việc quản lý quốc gia. Văn hóa cai trị của nhà cầm quyền còn thô sơ, đại khái găp đâu làm đấy, chẳng ra thể thống gì cả; nhân danh người có công với nước, tự coi ý mình là ý trời, bắt thiên hạ phải noi theo.

1/ Điều này khởi đầu từ nhà Đinh. Sách LSVN ĐHSP nói trên, phần đời sống chính trị cho biết thời Đinh Lê chưa có luật pháp. Mọi hình phạt đều tùy ý của vua hay các viên tướng đứng đầu các khu vực. Đinh Bộ Lĩnh đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi và quy định: người nào trái phép sẽ bị bỏ vạc dầu hay cho hổ ăn. ( tr 87).

ĐDA giải thích về việc này “Nước mới dựng kỷ cương chưa vững, trật tự chưa ổn định, ĐBL lấy hình phạt ghê gớm để uy hiếp nhân dân.”

Hoàng Xuân Hãn nhìn rộng hơn. Trong cuốn Lý Thường Kiệt nhân viết về thời Lý, nhìn lại thời Đinh Lê, ông giải thích “Các vua vũ biền các đời trước đã đem những thói giết chóc thời loạn ra thi hành ở thời bình. Những cực hình dùng hàng ngày chứng tỏ rằng các vua ấy còn giữ tập tính của người rừng rú”.

2/ Trong việc chinh phạt và ổn định tình hình xứ sở, Lê Hoàn càng tỏ ra tàn ác.

ĐVSKTB mà Ngô Thì Sĩ là một tác giả chính chép: Năm 989, Dương Tiến Lộc làm phản lôi kéo người hai châu Hoan Ái, theo về Chiêm Thành nhưng Chiêm Thành không nhận, người hai châu bị giết không biết bao nhiêu mà kể.

Ngô Thì Sĩ bình luận “người làm phản chỉ là Tiến Lộc thôi dân có tội gì” do đó chê Lê Hoàn là người thất đức.

“Người đã có công chống ngoại xâm, lấy lại đất nước từ tay giặc, sẽ tha hồ muốn làm gì dân thì làm” –người đời sau là chúng ta có quyền ngờ những ý tưởng ấy đã nẩy sinh trong trong tâm trí Lê Hoàn, nó khiến cho ông dám giết người không ghê tay như vậy.

Nền hành chính quá thô sơ

Trên kia đã dẫn đoạn Lê Hoàn đối xử với những người dưới quyền,

Người nêu nhận xét này đầu tiên là Tống Cảo, viên sứ thần TQ. Tống Cảo còn viết thêm về việc tiếp sứ của Lê Hoàn (người đầu tiên dẫn ra sự kiện Tống Cảo là Nguyễn Văn Tố– xem Đại nam dật sử , in lần đầu trên Tạp chí Tri Tân 1943-44)

Lê Hoàn bỏ giày đi chân không, cầm ngọn tre lội xuống nước để đâm cá; mỗi khi trúng một con cá thì những người chung quanh đều hò reo nhẩy múa. Phàm có người dự ngồi trong tiệc yến đều sai cởi đai đội mũ. Lê Hoàn nhiều áo sặc sỡ và áo đỏ mũ thì dát ngọc chân châu, có khi tự hát để mời. Chẳng ai hiểu là hát bài gì. […]Quân lính đến ba nghìn người đều chạm ở trán ba chữ “thiên tử quân”.Tính số thóc cấp cho giã lấy mà ăn. Binh khí chỉ có cung nỏ bài gỗ, súng tay, ống lệnh, yếu không thể dùng được. Lê Hoàn là người khinh suất tàn nhẫn, gần gũi bọn tiểu nhân tâm phúc có năm bẩy bọn yêm thu (?) đứng lẫn ở bên cạnh khi uống rượu lấy hiệu làm vui. Phàm quen thuộc người nào khéo nịnh được cất nhắc chỗ thân cận. Dầu người tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết, hoặc lấy roi đánh vào lưng từ một trăm đến hai trăm roi. Dầu đến mạc tán ( tôn làm thầy hoặc làm khách ở trong nhà) hoặc tá tiểu ( người kém mình một tí) mà bất như ý cũng đánh ba mươi roi truất làm hôn lại (người canh cửa) khi hết giận lại triệu cho phục chức. (Đại nam dật sử, bản của Hội khoa học lịch sử VN, H. 1977  tr.247)

Các sử gia cổ Trung quốc có lối miêu tả cụ thể ngắn gọn mà khái quát. Như viết về xứ ta hồi ấy, Tư Mã Thiên viết rằng “Tây Âu Lạc là xứ cởi trần mà cũng xưng vương” ( theo LSVN đã dẫn, qI tI. tr.115).

Những chi tiết Tống Cảo nêu lên ở trên  cũng có sức khái quát đủ cho ta hình dung ra con người và thực chất công việc làm vua của Lê Hoàn. Nó cũng có gì tương tự như việc LLĐ thiết triều -mọi chuyện đùa bỡn đã nêu ở bài trước,

Bây giờ nói về việc LLĐ cướp ngôi của anh

Ở những xã hội chưa có văn hóa chính trị, việc chuyển giao quyền lực luôn luôn rắc rối, và thường dẫn đến đổ máu.

LLĐ đã lên ngôi không phải do vua cha Lê Đại Hành sắp đặt mà theo con đường bất chính là cướp ngôi.

Tức là giết anh cả và chinh phục sự chống đối của mấy ông anh kế tiếp.

Nhưng hai chữ cướp ngôi cũng là chữ mà ĐVSKTB dùng cho Lê Hoàn ( tr.162). Chẳng những thế, nếu đọc kỹ sự kiện nhà Tiền Lê thay thế nhà Đinh, người ta còn cho thấy ở đây có một âm mưu. Khi tìm hiểu về quan hệ giữa các triều chính Đinh Lê với người phương Bắc, chúng ta sẽ gặp một người Trung Hoa làm đến Thái sư, gọi là Hồng Hiến. Ông này về sau làm tham mưu cho Lê Hoàn nhưng trước đó đã giúp vào việc đưa Lê Hoàn lên ngôi.(Chứ đâu phải đây chỉ là kết quả của cái tấm lòng yêu nước của bà Dương Vân Nga, như sử ngày nay hay nói.)

Nhân đây nói về một cách chép sử xưa. Tức là xét người theo tinh thần dân gian được làm vua thua làm giặc. Ai thắng thì được khoác cho đủ thứ danh nghĩa tốt đẹp và tha bổng cho mọi thói xấu. Vua thế mà dân cũng thế. Làm như để sống được, con người ta chỉ cần có lòng yêu nước thôi, không cần gì khác.

Mà sử ngày nay cũng đi theo vết xe ấy.

Một chính quyền có tính quân sự. Khoảng trống của học vấn

Trở lại với LLĐ. Ông vua 24 tuổi này là minh chứng cho những khái quát về các nhà cầm quyền quân sự mà sử xưa đã miêu tả: Tàn nhẫn dữ tợn kiêu căng. Và nhất là vô học ( chữ của Việt sử thông giám cương mục.)

Ngoài hành động cướp ngôi và đánh giặc ông này cũng có vài hoạt động khác.

Đại Việt Sử ký toàn thư ghi Bọn Ngô đô đốc, Kiểu Hành Hiến dâng biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung.

Vua đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thế vua sai người bơi lội qua lại đến ba lần, không hề gì. Xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại.
Nhưng hoạt động quân sự vẫn mạnh hơn cả.

Trên kia đã dẫn câu của Hoàng Xuân Hãn “Các vua vũ biền các đời trước đã đem những thói giết chóc thời loạn ra thi hành ở thời bình. Những cực hình dùng hàng ngày chứng tỏ rằng các vua ấy còn giữ tập tính của người rừng rú“.

Câu này do Nguyễn Hữu Châu Phan dẫn lại trong cuốn Xã hội nhà Lý nhìn dưới khía cạnh pháp luật ( Sùng Chính Tùng thư Huế 1971 tr 22)

Chữ võ biền này từng được nhắc tới trong lịch sử.

ĐVSKTB( tr 165) cho biết ĐBL cũng là loại “vũ lược có thừa mà học vấn không đủ, gần gũi bọn tiểu nhân, say đắm vui chơi yến tiệc”

Từ Lê Long Đĩnh có thể rút ra kết luận

— Bộ phận nắm giữ quyền lực và kéo cả cộng đồng theo mình lúc này là các đầu lĩnh các võ tướng.

– Ra đời trong thế yếu nên ngay từ đầu chính quyền lập nên cũng chỉ lao vào việc đánh dẹp để tạo ra sự ổn định luôn luôn là tạm thời, các đầu lĩnh trở thành người có quyền sinh quyền sát quá lớn.

– Đất nước chỉ được tổ chức như một đạo quân mà không tính chuyện hình thành một xã hội.

NHCP bảo việc dùng các loại “luật pháp” rừng rú là dấu hiệu của các quốc gia chưa hình thành.

Đặt cách tổ chức chính quyền theo kiểu quân sự trong văn hóa cai trị

Theo sách Các nền văn minh thế giới– lịch sử và văn hóa ( bản tiếng Việt 2008) của các tác giả Philip Lee Ralph, Edward McNall Burns, thì đây là một kiểu dựng nước trong thế yếu và tình trạng chung là lạc hậu.

Sách này cho biết kiểu thống nhất xã hội  ở Trung Quốc thời cổ đã là nhờ chính quyền. Nhưng chính quyền ở TQ ngay từ thời ấy đã biết nâng việc cai trị lên đến mức thành một văn hóa. Khổng tử Mạnh tử  đừng nói Hàn Phi tử đều nói rất nhiều tới việc cai trị

Vẫn theo sách trên quá trình chuyển sự cai trị từ quân sự sang dân sự ở Trung quốc kéo dài nhiều đời.

Thời nhà Thương xã hội nông nghiệp được giai cấp quý tộc là các chiến binh cai trị. Đại sự quốc gia là tế lễ và tổ chức lực lượng quân sự.

Nhưng sang đời Đường, các hoàng đế không cai trị như kẻ chuyên chế quân sự mà duy trì sự khác biệt giữa dân sự và quân sự một khoảng cách đáng kể. Chỉ trong giai đoạn suy yếu các nhà lãnh đạo quân sự mới nắm chính quyền.

Vào đời nhà Đường người Trung Hoa đã tin chắc rằng các chế độ quân sự không hợp với các quốc gia có chuẩn tắc và văn minh. (Sđ d tr 405)

Xã hội đời Đường sắp xếp theo thang bậc năm cấp – sĩ nông công thương binh. Binh ở hạng cuối được gộp chung với kẻ ăn xin trộm cướp. Một câu tục ngữ thường được người đương thời trích dẫn ´sách tốt không dùng làm đinh, người tốt không dùng làm binh” ( như trên tr 407)

Theo các tác giả Các nền văn minh thế giới lịch sử và văn hóa, đánh giá như thế tức là quý trọng trí tuệ, biết dùng trí tuệ khống chế bạo lực, không coi trọng những nghề không sinh lợi.

Trong các công trinh nghiên cứu của một trí thức Trung quốc hiện đại là Lâm Ngữ Đường, người ta thấy ông luôn nhấn mạnh:

– TQ trải qua chiến tranh nhưng không hướng tất cả nghị lực và sức mạnh cộng đồng vào chiến tranh. Họ chỉ sử dụng võ lực trong trường hợp cần thiết và trong một thời gian ngắn. Giai cấp thống trị hiểu rằng để đưa đất nước phát triển thì cần có văn – văn với ý nghĩa toàn bộ tri thức khoa học xã hội và kiến thức kinh tế

– Ngay cả trong thời loạn lạc, người dân TQ không cảm thấy thèm một vị tướng tài bằng một người hiền tài có thể hướng dẫn họ ra thoát tình trạng chinh chiến.

Giới cầm quyền ý thức được rằng chỉ có trí tuệ mới có thể thuyết phục được tất cả, bằng trí tuệ mới quản lý được mọi người

Ở ta không phải các nhà làm sử thời nay không biết điều này.

Họ hiểu những chính quyền đầu tiên hình thành ở VN thời cổ đều có tính chất quân sự. Thoát thai ra từ thế lực chống ngoại xâm, bộ phận ưu tú trong xã hội  chủ yếu là các đầu lĩnh. Hơn nữa chỉ là những đầu lĩnh nhỏ người nọ diệt người kia mà lớn lên dần.
Và họ hiểu lẽ ra cách quản lý đó phải thay đổi.

Giải thích về việc nhà Tiền Lê mất vào tay nhà Lý, sách LSVN đã dẫn viết “Tập đoàn phong kiến Tiền Lê đại biểu cho thế lực phong kiến quân sự về cơ bản đã làm xong sứ mệnh của mình” ( q.1, t II, tr 98).

Nhưng để làm tròn nhiệm vụ phục vụ tuyên truyền chính trị trước mắt, các nhà lịch sử đương thời vẫn có xu hướng coi việc lấy được đất nước là tiêu chuẩn chính để đánh giá các chính quyền nối tiếp trong lịch sử.

Cách tổ chức chính quyền theo kiểu quân sự là đặc tính kéo dài của xã hội VN suốt gần chục thế kỷ:

– Bằng cách sử dụng những ràng buộc có ý nghĩa tôn giáo, nhà Lý là một sự từ bỏ vai trò của võ tướng thời Đinh – Lê và  trong việc ổn định xã hội, dành cho tôn giáo một vai trò lớn hơn.

– Nhưng chính quyền nhà Trần thì đặc sệt quân sự.

– Đầu nhà Lê, quan võ loại Lê Sát vẫn át quan văn loại Nguyễn Trãi.

Mọi cố gắng của Lê Thánh Tông – ông vua thuộc loại chăm lo xây dựng xã hội dân sự nhất ở ta – rút cục chỉ dẫn tới  tình hình một xã hội rối ren thối nát thời Lê  Mạc, tiếp theo là thời Lê Trung hưng mà  nội dung chính là nền độc tài quân sự giấu mặt của họ Trịnh.

Do ẩn mình sau cái mặt nạ phù Lê, không làm nhân vật số một mà chỉ đóng vai số hai,  nền độc tài  đậm chất võ biền này kéo dài tới gần 200 năm. Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã rất có lý khi gọi hình thái vua Lê chúa Trịnh là môt sự báng bổ đối với đạo Nho.

-Để hiểu bộ máy cai trị đậm chất quân sự của nhà Nguyễn khi mới lấy lại đất nước, chỉ cần nêu lên một chi tiết: trong khi triều đình đóng đô ở Huế thì Nam Bắc mỗi miền được gộp lại quanh những trung tâm quân sự là Gia Định thành và Bắc thành.

Người đứng đầu các trung tâm này là các Tổng trấn, tức là các vị chỉ huy quân đội. Tổng trấn Bắc thành lúc đầu là Nguyễn Văn Thành và của Gia Định thành là Lê Văn Duyệt.

Lịch sử VN như vậy là đi theo vết xe của các triều Ngô Đinh Tiền Lê thời đầu dựng nước . Và trước khi Pháp sang, nền hành chính VN chỉ mới bước thấp bước cao trên con đường dài dặc là trở thành một bộ phận trong cái xã hội dân sự theo đúng nghĩa.

II/ Trường hợp Trần Khánh Dư – Vừa là người anh hùng có công vừa là viên quan cai trị có tội

 Trong phần trước, tôi đã nói tới trường hợp những người anh hùng thời mới dựng nước, nhân có công đánh thắng giặc ngoại xâm, khi trở thành vua chúa, tự giành cho mình cái quyền đối xử hết sức tàn tệ với nhân dân.

Bài này nói về một trường hợp muộn hơn vào đời Trần và trong một tình thế gần hơn với chúng ta thời nay.

Một cuộc đời nhiều thăng trầm

Trần Khánh Dư (không rõ năm sinh, mất năm 1339), thường được biết tới như một trong những công thần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.

Sách Đại việt sử ký toàn thư ( bản của NXb KHXH 1985, t. II tr.58), dưới đây gọi tắt là Toàn thưghi, trong cuộc chống quân Nguyên lần hai, ông được giao giữ vùng biển phía Bắc, nhưng không chặn nổi quân giặc, bị Thượng hoàng Trần Nhân Tông sai người xiềng giải về kinh. Khánh Dư xin hoãn, sau tập trung tàn quân ta đánh đoàn hậu cần của địch, bắt được hết lương thực khí giới của chúng, nên được tha tội.

Trước chiến công đánh chặn quân lương nói trên, trong việc chống quân Nguyên xâm lược lần thứ nhất, Trần Khánh Dư còn có nhiều công trạng khác, nên từng được phong tước cao như phiêu kỵ tướng quân có lúc được phong tước tử phục thượng vị hầu, quyền chức phán thủ.

Ngoài những thắng thua trong hoạt động quân sự, đời ông còn cả những thăng trầm trên phương diện quan chức.

Điểm thấp nhất trong bước đường công danh của ông xảy ra trước chiến tranh 1285. Do thông dâm với công chúa Thiên Thụy, con dâu Trần Quốc Tuấn, ông bị vua Thánh Tông sai người đánh thật nặng, đoạt hết quan tước và tịch thu toàn bộ tài sản. Khánh Dư lui về Chí Linh, theo chữ của Toàn thư là “cùng bọn hèn hạ làm nghề bán than”.

Nhờ chiến tranh mà ông được phục chức.

Toàn thư (sđ d tr46) kể bấy giờ vua Nhân Tông họp các quý tộc ở bến Bình Than bàn kế chống giặc. Khi đó, nước triều rút gió thổi mạnh có chiếc thuyền lớn chở than củi, người trên thuyền đội nón lá mặc áo ngắn. Vua nhận ra là Trần Khánh Dư, sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Quân hiệu gọi, bảo có lệnh vua triệu, người bán than trả lời “Lão là người buôn bán có việc gì mà phải triệu?”. Vua biết chỉ Trần Khánh Dư mới dám nói thế, liền tiếp tục cho gọi đến, cùng ngồi bàn việc nước. Thấy rất hợp nên khôi phục chức phó tướng hồi trước.

Câu chuyện cho thấy Trần Khánh Dư là một con người ngang tàng có bản lĩnh, dám chấp nhận mọi hoàn cảnh. Ngoài tri thức quân sự ông đã sớm làm quen với cuộc đời thường kể cả việc kinh doanh.

Nhân danh chiến đấu chống ngoại xâm để làm giầu

Nhà Trần vốn là một dòng họ bên đất Mân truyền sang (sđd t. II, tr 5) cướp ngôi nhà Lý mà thành. Wikipedia tiếng Việt còn ghi rõ tổ tiên của nhà Trần có nguồn gốc ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Những người đầu tiên từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110.

Trong guồng máy chính quyền lúc ấy, các văn quan, các nhà quản lý có vai trò kinh bang tế thế là một cái gì xa lạ. Việc quản lý từ Trung ương đến địa phương trong tay người trong hoàng tộc cũng tức là các tướng lĩnh quân sự.

Trần Khánh Dư sớm được xếp một vai phụ mẫu chi dân.

Trên cương vị này, người anh hùng của chúng ta hiện ra là người thế nào ? Toàn Thư ( sđd tr 59) viết :

Khi Khánh Dư làm trấn thủ Vân Đồn, tục ở đấy lấy buôn bán làm nghề nghiệp sinh nhai, ăn uống may mặc đều dựa vào khách buôn phương Bắc, cho nên quần áo đồ dùng theo tục người Bắc. Khánh Dư duyệt quân các trang ra lệnh” Quân trấn giữ Vân Đồn là để ngăn phòng giặc Hồ, không thể đội nón của phương Bắc sợ khi vội vàng khó lòng phân biệt, nên đội nón Ma Lôi ( Ma Lôi là tên một hương ở Hồng Lộ, hương này khéo nghề đan cật tre làm nón , cho nên lấy tên hương làm tên nón ) ai trái tất phải phạt. Nhưng Khánh Dư đã sai người nhà mua nón Ma Lôi từ trước chở thuyền đến đậu trong cảng rồi. Lệnh vừa ra, sai người ngầm báo dân trong trang: “Hôm qua thấy trước vụng biển có thuyền chở nón Ma Lôi đậu”. Do đó người trong trang nối gót tranh nhau mua nón, ban đầu mua không tới một tiền, sau giá đắt bán một chiếc nón giá một tấm vải. Số vải thu được tới hàng ngàn tấm. Thơ mừng của một người khách phương Bắc có câu Vân Đồn kê khuyển diệc giai kinh ( “Vân Đồn gà chó thẩy đều kinh” ) là nói thác phục uy danh của Khánh Dư, mà thực là châm biếm ngầm ông ta. Khánh Dư tính tham lam thô bỉ, những nơi ông ta trấn nhậm, mọi người đều rất ghét.

Đoạn sử nói trên cho thấy:

1/Tình trạng phụ thuộc của xứ ta vào “nước lạ” phương Bắc, càng những miền gần cận biên giới càng phụ thuộc nặng.

2/ Thực trạng công việc quản lý của các nhà quân sự thời Trần.

Toàn bộ hoạt động xã hội lúc ấy dồn vào việc tự vệ chống giặc. Trong khi chuẩn bị chiến đấu lâu dài, người chỉ huy phải có toàn quyền hành động, từ đó dẫn đến sự lợi dụng quyền lực.

Tại sao nên dùng nón Ma Lôi? Là để phân biệt ta với địch. Lệnh thời chiến ai mà dám trái!

Nếu chú ý tới chi tiết Trần Khánh Dư cho người đi phao lên rằng thuyền chở nón đã đến để người ta đổ đi mua, thì nói như chúng ta ngày nay, tức là toàn bộ hệ thống chính trị được huy động để phục vụ cho việc kiếm lợi của viên tướng thạo đời này.

Trường hợp của Trần Khánh Dư cũng là trường hợp của nhiều vị anh hùng khác, chẳng qua sử xưa không nói thì chúng ta nay không biết .

Lâu nay ta chỉ nghĩ ông là người anh hùng có công. Nhưng phải nhận, trên cương vị người quản lý xã hội viên quan cai trị dân, người trấn nhậm vùng Vân Đồn lại hiện ra như một kẻ có tội.

Ông tự dành cho mình cái quyền lừa dối nhân dân để kiếm lợi riêng.

Hơn nữa nên biết đó là điều nằm trong quan niệm làm quan (= cai trị) của ông, chứ đây không phải một hành động ngẫu nhiên bị ai xui bẩy. Chính Toàn thư cũng đã ghi một câu thuộc loại “lời nói có cánh” của ông. Đời vua Anh Tông, tiếp theo Nhân Tông, người dân đã kiện Trần Khánh Dư đến tận triều đình, nhưng ông không sợ mà còn tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ ? ”. (S đ d, tr 72)

Có công là một chuyện sử dụng trong cai trị là chuyện khác

Sử học dạy ở các nhà trường hiện nay là thứ sử học soạn ra từ hồi chiến tranh, khi mọi ngành học đều phải hướng vào việc đưa thanh niên đi chiến đấu. Những đoạn vân vi về Trần Khánh Dư có lỗi thường không được cho học sinh biết.

Tôi cũng ở vào tình cảnh vậy. Mãi chục năm trước khi về hưu, mới ngộ ra, quyết dành nhiều thời gian cho sử, với nghĩa tìm thêm những bài học của ông cha khi sống trong thời hậu chiến. Nên nhặt lại được câu chuyện Trần Khánh Dư.

Những chi tiết trên lại gợi ra nhiều suy nghĩ có liên quan tới đời sống xã hội hiện nay.
Cũng như Trần Khánh Dư, người anh hùng mà cuộc chiến tranh ở ta sản sinh ra thực ra cũng không phải là những kẻ siêu phàm. Thời thế đã tạo ra họ với tất cả những chỗ mạnh chỗ yếu rõ ràng mà do yêu cầu hoàn cảnh, ta thường quên đi những chỗ yếu mà chỉ nhớ tới những chỗ mạnh.

Cũng như Trần Khánh Dư, sau chiến tranh cả thế hệ anh hùng thời chống Mỹ lại tự đứng ra chia nhau quản lý các công việc mà trước đó họ chưa từng làm quen.

Điều đáng nói là do đã trải qua chiến tranh, nay họ không muốn học nữa, mà cũng không cần cái  tiếng tử tế nữa. Chỉ lo làm giàu thật nhanh để bù đắp lại những vất vả hy sinh mà họ đã gánh chịu trong chiến đấu.

Tôi cho đó là nguồn gốc của những tai vạ trong xã hội hiện nay, khi mà việc làm ăn đều đình đốn và con người thì ngày càng lưu manh sa đọa.

 Không phải riêng tôi mà những người có quan tâm tới thế sự đều nói như vậy.

Hồi ký của Nguyễn Hiến Lê ở chương XXI (bị tước bỏ khi in trong nước) có đoạn bàn về việc dùng người ở xã hội ta hiện nay. Ông rất hiểu rằng nay là thời sau chiến tranh nên những người được ưu tiên thường là những người có công trong chiến tranh mà lại kém chuyên môn. Còn người có thực tài mà không có “quá khứ anh hùng “ thì cũng bị cho ra rìa. Và ông cho rằng như thế là nhầm là có hại.

Mở rộng ra, Nguyễn Hiến Lê bàn đến cả sự khác nhau giữa thời chiến và thời bình cùng là cách sử dụng người có công thế nào. Cả sách vở Trung Hoa cổ cũng ông viện dẫn ra để làm chứng.

Kinh Dịch, quẻ Sư, hào 6, cũng đã khuyên ta khi chiến thắng rồi, luận công mà khen thưởng thì kẻ ít học, dân thường tuy có tài chiến đấu, lập được công, cũng chỉ nên thưởng tiền bạc thôi, không nên phong đất cho để cai trị, vì công việc kiến thiết quốc gia phải là người có tài, có đức mới gánh nổi.

Rồi cả kinh nghiệm các nước khác trên thế giới:

Nước Anh sau mấy năm thế chiến rồi cũng chỉ thưởng tiền cho các danh tướng; chẳng những vậy, năm 1945, khi chiến tranh chấm dứt, họ thay cả viên Thủ tướng, cho Churchill về vườn, mặc dầu ông có công nhất trong việc cứu quốc, diệt Đức; như vậy chỉ vì chính sách thời bình khác thời chiến, nên phải dùng người khác.

Khác nhau trong sự thương dân

Toàn thư (sđd tr 56) có ghi lại một chi tiết năm Ất Dậu 1285, mùa đông tháng mười [vua] xuống chiếu định hộ khẩu trong nước. Triều thần can là dân vừa qua lao khổ, định hộ khẩu thực không phải là việc cần kíp. Vua nói:”Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này, chẳng nên qua đó mà xem xét tình trạng hao hụt điêu tàn của dân hay sao?” Quần thần đều khâm phục.

Các nhà sử học chắc dựa vào đoạn này để viết các vua nhà Trần thương dân, luôn luôn biết lo cho dân.

Nhưng nên có sự phân biệt. Vua thương dân nói ở đây là Nhân Tông Trần Khâm trị vì từ 1278 -1293

Đoạn trên đã kể việc Khánh Dư mắc tội thông dâm, vua lúc đó là Thánh Tông liền nổi trận lôi đình, định đánh cho chết; sau có nghĩ lại thì cũng “sai người đánh thật nặng, đoạt hết quan tước tịch thu toàn bộ tài sản, cho lui về Chí Linh “cùng bọn hèn hạ làm nghề bán than”.

Trở lại với câu nói “có cánh” của Trần Khánh Dư mà ở trên tôi đã dẫn:“Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ ?”.

Toàn thư (sđd tr 72) ghi [nghe Khánh Dư nói vậy] “vua không bằng lòng”.Thế thôi. Và vẫn để Khánh Dư lui về nơi đang trị nhậm.

Vị vua về sau này là Trần Anh Tông, đã được Nhân Tông cho tập sự từ 1284, và chính thức lên ngôi khi Nhân Tông qua đời.

Có thể còn là vội vàng khi nói Anh Tông đã thả cho quan chức tùy tiện lột da dân. Nhưng có điều chắc càng về sau các vua càng nể nả với người có công và đã đặt lợi ích của dòng họ cao hơn so với lợi ích của nhân dân. Cũng từ Anh Tông trở đi, nhà Trần đi dần vào khủng hoảng, đưa đất nước từ đỉnh cao rơi xuống vực thẳm.

Cuộc khủng hoảng của nhà Trần sau khi đánh thắng quân Nguyên

Trên con đường lấy lịch sử để giải thích hiện tại, có một việc tôi đang muốn dành thời gian để  làm là đọc lại sử nước mình những năm sau chiến tranh – ta hay gọi là hậu chiến.

Câu hỏi đặt ra hôm nay: đánh xong quân Nguyên, xã hội VN thời nhà Trần ra sao? Và tôi tìm thấy một số tư liệu như sau.

Dưới con mắt Đào Duy Anh 

Trong cuốn Lịch sử VN- từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX,  Đào Duy Anh dành hẳn một chương, chương XXV, nói về Bước suy đốn của nhà Trần, trong đó nói rõ việc đầu tiên Trần Nhân Tông cho làm sau khi quân Nguyên rút lui năm 1285 là duyệt lại hộ khẩu trong nước.

Để làm gì? Theo Đào Duy Anh, để tìm cách “lấy tiền của mà tu bổ những tổn hại do chiến tranh gây nên.”

Tiếp đó, Đào Duy Anh kể ra nhiều việc nhà Trần đã làm sau 1288, nhằm “ra tay bóc lột nhân dân thêm nữa”.

     “Ngay năm 1290, sử đã chép có nạn đói lớn [….] Sau khi đã ra sức tham gia kháng chiến trong quân đội hay trong dân quân, người nông dân thấy đời họ không được cải thiện mà lại còn bị bóc lột hơn xưa, họ rất lấy làm bất bình mà đã rục rịch phản đối. Không thể dùng ngay thủ đoạn khủng bố, Trần Khâm ( tức Nhân Tông—VTN ) lại nghĩ ngay đến việc dụng binh đối với các nước nhỏ láng giềng  để đánh lạc hướng bất bình của nhân dân” (Sđd, bản của Nxb Văn hóa Thông tin, 2002, tr. 258-259)

Theo cách miêu tả của Trương Hữu Quýnh và Nguyễn Đức Nghinh

Trên đây tôi đã bắt đầu từ cuốn  sử của Đào Duy Anh.

Khốn thay là từ 1958 tới 1980, Đào Duy Anh bị vướng vào vụ Nhân văn  nên các tác phẩm của ông, kể cả cuốn trên, không được in lại. Tuy một số phương diện tư tưởng của ông có được các học trò xuất sắc ở thế hệ sau … tiếp tục, nhưng thực tế là người ta càng ngày càng xa rời cái chiều hướng mà Đào Duy Anh theo đuổi để đi vào một thứ sử học đơn giản và vụ lợi, cốt phục vụ các mục đích chính trị trước mắt.

Cũng may mà những năm trước 1975, tình hình cũng chưa đến nỗi hoàn toàn bi đát.

Theo dư luận chung, một trong những cuốn xuất sắc nhất thời ấy là  Lịch sử chế độ phong kiến VN của khoa Sử đại học tổng hợp viết trước 1975, cuốn I sách này dành để viết về VN trước thế kỷ XV.

Nhưng tôi hiện không có cuốn đó trong tay, chỉ đành dựa vào bộ Lịch sử Việt Nam quyển I, tập II, bao quát giai đoạn từ thế kỷ VII tới 1427 của Khoa Sử Đại học sư phạm, nxb Giáo dụcHà Nội, 1970.

Ở  cuốn sách này, tôi tìm được những trang sử mà mình muốn biết và muốn mọi người cùng biết.

Sau chương V nói về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông, chương VII cuốn sử do Trương Hữu Quýnh và Nguyễn Đức Nghinh biên soạn mang tên Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV.

Ngay phần mở đầu chương, cùng với việc nêu rõ tầm cỡ chiến thắng, các tác giả viết:

 “…ba năm chiến tranh ác liệt chống chọi với kẻ địch nổi tiếng về tính chất cướp bóc và phá hoại đã để lại những hậu quả quan trọng cho sản xuất và đời sống nông dân. Liền sau đó hai năm 1290, 1291 là những năm đói lớn, một thăng gạo trị giá một quan tiền, nhiều người dân phải bán ruộng đất và con trai con gái để lấy lương ăn.”(tr 258)

Hoàn cảnh hậu chiến khó khăn, hẳn không ai lạ gì. Các nhà sử học tôi muốn giới thiệu trong bài này chỉ hơn hẳn các nhà sử khác là không lảng tránh mà coi đó là một đối tượng cần phải miêu tả.

Trong sự hạn chế của một nền sử học viết trong hoàn cảnh 30 năm chiến tranh, họ dường như muốn cảnh báo trước về những khó khăn mà con người hậu chiến hiện đại sẽ phải chịu đựng.

Theo sự chỉ dẫn của các tác giả, người ta được biết những năm đó, nguy cơ của một cuộc xâm lược lần thứ IV của quân Nguyên vẫn chưa hết.

Nhưng có cái lạ mà khi đọc lại chúng tôi hết sức ngỡ ngàng, đó là chỉ hai năm sau, lập tức vua và quí tộc nhà Trần đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược các nước láng giềng ở phía Tây và phía Nam, tức Ai Lao và Chiêm Thành.

Và có ít đâu, cuộc chiến Việt Nam Ai Lao thời ấy kéo dài hàng nửa thế kỷ ( xem tr. 260), mà cuộc chiến với Chiêm Thành lại còn dây dưa lâu hơn – trận chiến cuối cùng mà quân nhà Trần tiến hành ở Chiêm Thành là vào 1396 (tr.263).

Các bộ lịch sử VN viết trong những năm chiến tranh có thói quen ca tụng tất cả những cuộc chiến tranh mà ông cha ta đã tiến hành trong quá khứ.

Nhưng ngay ở đoạn viết về cuộc chiến tranh sang đánh Ai Lao của Trần Nhân Tôn  năm 1290 và 1294, các tác giả của Khoa Sử trường Đại học Sư phạm đã vượt ra ngoài thói quen đó.

Các ông nói rõ đây là những cuộc hành binh phi nghĩa.( Tr 259)

Nhìn lại cả  một thế kỷ chiến tranh ở mặt trận Tây – Nam, các tác giả bảo rằng nó đã huy động “những khả năng lớn lao của dân tộc” chỉ “để thỏa mãn những tham vọng về đất đai uy thế và quyền lực” của vua chúa thời ấy mà thôi( sđ d tr 263).

Để miêu tả đến cùng tâm lý bệnh hoạn mà vua chúa thời ấy mắc phải,  các tác giả  Trương Hữu Quýnh và Nguyễn Đức Nghinh lại còn ghi lại một cuộc bàn bạc trong triều đình nhằm tố cáo lý do giả tạo mà ông vua vừa chiến thắng quân Nguyên nêu ra để buộc mọi người làm theo ý mình.

Ở tr 259, sách kể khi đánh Ai Lao, bầy tôi có người can ngăn rằng giặc Nguyên vừa mới rút lui, vết thương chưa hàn gắn được, không nên gây việc binh đao, thì vua trả lời đại ý rằng “sau khi giặc rút lui, các nước bên cạnh tất bảo là quân mã của ta mỏi mệt, có ý coi thường, cho nên cần phải khởi đại binh để ra oai với nước khác”.

Tóm tắt tình hình chinh chiến với Chiêm Thành,  các tác giả cho biết:

 “ từ 1361, quân nhà Trần lui dần vào thế phòng ngự, chuyển cuộc  chiến tranh ở đất nước người về đất nước mình, nhân dân lao động phải gánh chịu những thảm họa của chiến tranh trực tiếp và ghê gớm hơn.”

“…sức sản xuất bị đình trệ  và có lúc bị phá hoại nặng nề đưa đến nạn đói lưu niên. Chỉ tính từ 1290 đến 1379 đã có 13 lần đói trầm trọng…(tr. 265)

Xét chung tình hình quốc gia, xưa nay dân ta hay nói sau khi chiến thắng quân Nguyên, đây là giai đoạn “ngàn năm thăng bình”.

Thăng bình là từ cũ nay ít dùng. Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Mộng Hùng ( S. 1975) lý giải là “lên cõi bình trị trên toàn đất nước”, tiếp đó ghi lại câu thơ Nguyễn Khuyến “ “Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo” làm dẫn chứng .

Nhưng theo các tác giả cuốn sách đang nói, tình trạng thăng bình — và nghĩa giản dị hơn là một cuộc sống yên ổn — không đến với dân chúng.

Cuộc sống “an cư lạc nghiệp mà người dân Đại Việt muốn sau những năm chống quân Nguyên căng thẳng, không thể tìm thấy được trong cả thời gian rất dài gần hết thế kỷ XIV” ( sđ d tr. 264).

Tại sao vậy? Tạm nêu  lý do:

a/ Bao trùm trong những người quản lý quốc gia là  tâm lý đắc thắng kiêu ngạo “ bụi Hồ không dám động”.

b/ Khi đã mất hết cảm giác chính xác về thời cuộc, tầng lớp quí tộc cầm quyền những năm sau chiến tranh tự cho phép mình rơi vào ăn chơi sa đọa.

Có thể hình dung sự ăn chơi của vua quan nhà Trần thời hậu chiến  là vô cùng bỉ ổi, bởi họ có lý có lẽ hẳn hoi.

Nói theo chữ nghĩa thời nay, họ lao vào hưởng thụ một cách có ý thức.

Với tư cách là người chiến thắng họ cho mình cái quyền đó. “Cuộc chơi năm nay lại hơn những cuộc chơi năm xưa” – trong một bải thơ  vua Trần đã nói như vậy( sđd tr 263).

Ta hãy chú ý đến một khoảng cách là 40 năm hậu chiến.
Đây là thời Dụ Tông.

Tiếp theo AnhTông (1293-1314), Minh Tông(1314- 1329) Hiến Tông (1329—1340), vị vua này trị vì từ 1341 – 1369.

 Lịch sử Việt Nam của Lê Thành Khôi viết ở bên Pháp từ 1950 và mới được dịch ở ta 2014, trong  chưa đầy hai trang ngắn ngủi nói về sự suy tàn của nhà Trần ( tr 225-227), cũng phải đề cập tới Trần Dụ Tông.

Ông vua này được miêu tả là người “chỉ nghĩ đến rượu chè chơi bời và phung phí công quỹ vào việc xây cung điện.”

Trở lại với cuốn LSVN của khoa Sử ĐHSP, thời kỳ Dụ Tông nhiều chùa tháp và cung điện được xây dựng. Vua sai đào hồ lớn ở vừờn ngự,  chất đá thành núi, bốn mặt khai sông cho nước thông vào để làm chỗ vui chơi. Sau đó còn đào một hồ nhỏ khác bắt dân Hải Đông chở nước mặn về chứa vào hồ để nuôi hải sản (tr 263-264).

Thời kì Dụ Tông cũng là thời kì những kẻ bất tài khéo nịnh được thăng quan tiến chức, viên chính chưởng phụng ngự Bùi Khoang giả vờ uống hết 100 thưng rượu mà được thăng tước.( tr 264)

Từ những ghi chép và bình luận của Ngô Thì Sĩ

Trên đây là mấy tài liệu lấy ra từ các bộ sử đương đại. Dưới đây là các bằng chứng xa xưa hơn.

Khi nói về các bộ cổ sử, người ta phải nói tới Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu và Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn.

Nhưng thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu còn giới thiệu một vài bộ sử khác, bộ nào cũng có những khía cạnh mới.

Một tác giả như Ngô Thì Sĩ (1726-1780) đã mang lại cho cổ sử những ghi chép người khác hoặc bỏ qua, hoặc ghi không rõ, và nhất là những bình luận độc đáo, mang dấu ấn một tư duy sử học gần với con người hiện đại.

Chung quanh thế kỷ XIV mà chúng ta đang nói, đọc vào cuốn của Ngô Thì Sĩ thấy nhiều ý tứ phê phán mạnh bạo hơn, nên trong bài này tôi muốn cùng bạn đọc lần vào các trang  sử của người thân sinh Ngô Thì Nhậm, với sự lưu ý trước rằng, nhiều chi tiết có thể đã thấy ở cuốn Toàn thư, cũng như ở  Cương mục.

Tài liệu tôi dùng lần này là bản Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, bản dịch của Viện nghiên cứu Hán Nôm, in 1997.

Xin phép bắt đầu bằng cách  nói tạt ngang về một chuyện có liên quan tới sự lạ lùng của ĐVSKTB.

Gần đây báo chí nói nhiều tới việc Nhân Tông thượng hoàng (trị vì từ 1279 tới 1293) đi tu.

Một lần khoảng 2010, gặp nhau ở Sài Gòn, anh Trần Đĩnh —  bằng sự lịch lãm của một người đã qua sống qua ba chục năm chiến tranh và hết sức thông thạo mọi đường ngang ngõ tắt của các trung tâm quyền lực – đã giải thích với tôi, chắc là Nhân Tông thấy chiến tranh khủng khiếp quá, nên tìm cách tách mình ra khỏi thời sự mà suy nghĩ đấy thôi.

Cũng là một cách ghi nhận tâm lý hậu chiến!

Thật thú vị khi đọc Ngô Thì Sĩ lại bắt gặp một ý tưởng tương đồng.

Tiếp theo đoạn ca ngợi Thượng hoàng Nhân Tông, tác giả ĐVSKTB đứng trên lập trường nhà nho dấn thân, để chỉ ra trong hành động đi tu này vài ý nghĩa tiêu cực.

Ngô Thì Sĩ viết

“Vua Nhân Tông tinh thông kinh điển, vốn có giác ngộ, trong thiên hạ không vật gì đáng bận tâm. Nhưng đường đường là đấng thiên tử mà ẩn náu nơi hang cùng ngõ hẻm, sớm hôm cùng một hai nhà sư trên núi không có hám của cải,  sống trong cảnh thái bình cho đến hết đời, công nhiên dùng Phật học mà dẫn dắt con cháu, đưa cả thiên hạ vào giáo lý đạo Phật, lỗi ấy không gì lớn hơn. (Tr 394 sđd)

Trở lại với cái mạch chung của thế kỷ XIV.

Trên nét lớn, sau khi đọc các nhà sử học đã dẫn ra ở trên, người ta chỉ có thể đi đến kết luận rằng sau một thời đại anh hùng là một thời kỳ đen tối và  thế kỷ XIV là một thời kì đau đớn trong lịch sử nước ta.

Sau khi Nhân Tôn bỏ việc đi tu, người kế tục ông là Anh Tôn đã nổi tiếng về chơi bời hư hỏng.

Các sách sử cũ đều viết và Ngô thì Sĩ cũng viết rằng một lần khi Thượng hoàng Nhân Tôn từ Thiên Trường về Kinh sư, mọi người trong ngoài đều không biết; vua uống rượu xương bồ quá say, Thượng hoàng đi xem khắp cung điện suốt hai khắc đồng hồ, chuẩn bị đi ăn cơm, vua vẫn chưa tỉnh.

Cũng vua Anh Tông này, theo cách miêu tả của Ngô Thì Sĩ phải kể là vị vua rất lông bông.“Vua thích vi hành, cứ ban đêm ngồi kiệu cho mười hai người thị vệ theo, đi khắp trong kinh kỳ đến gà gáy mới về cung” (Tr 394 sđd )

Ở trên đã nói, nếu lấy khoảng cách là 40 –đến 50 năm sau chiến thắng thì ông vua nhà Trần trị vì lúc ấy là Trần Dụ Tông.

Ông này mới thật hoàn toàn tiêu biểu cho tình trạng suy đồi của vua quan nhà Trần thế kỷ XIV.

Về Dụ Tông những năm cuối đời, Ngô Thì Sĩ  có lần buông một câu gọn ghẽ: “Việc làm rối loạn đạo trời, khiến cho Dụ Tôngtinh còn mà thần mất, người khỏe mà tâm đã chết, tối tăm càn rỡ vào tận máu thịt”.

Thời Dụ Tông cũng là thời Chu Văn An dâng sớ xin chém mấy người gian nịnh. Bởi vậy, Ngô Thì Sĩ  lại viết thêm:

“Cho dù Chu Văn Trinh muốn lấy nghĩa lý mà chữa, cuối cùng cũng không chữa nổi.” (tr 443)

Trong bài viết về Trần Khánh Dư, tính chung cả hàng ngũ vua quan đương thời, tôi đã từng tạm khái quát “từ những người anh hùng có công, nhiều người trong họ trở thành những viên quan cai trị có tội”.

Nhưng mà đấy mới chỉ là nói một cách chung.

Thực ra ban đầu các vị ấy đâu đã phải hoàn toàn hư hỏng.

Về sự suy đồi đạo lý của họ, Ngô Thì Sĩ đưa ra một sự so sánh:

+năm 1296, một viên quan thượng phẩm là Nguyễn Hưng phạm luật đánh bạc liền bị đánh chết(tr 396).

+thế mà đến năm 1362, vua Dụ Tông lại gọi người vào chơi bạc, để mưu đóng vai nhà cái một vốn bốn lời “một lần đặt là 300 quan, ba lần đã gần nghìn quan rồi”.

Dụ Tông cũng ban lệnh cho tư nô cày một mẫu đất ở bờ bắc sông Tô Lịch để trồng hành trồng tỏi, rau dưa rồi đem bán kiếm tiền. Rồi làm cả quạt mang bán (tr. 453).

Theo cách miêu tả của  Ngô Thì Sĩ, Dụ Tông có một tính cách rất hiện đại là biết dùng bộ máy quyền lực để kiếm tiền trong quan lại cấp dưới và cả dân.

ĐVSKTB ở tr 455 kể một chuyện xảy ra từ đời vua cha là Minh Tông. Thấy một nhà buôn là Ngô Dẫn giầu lên nhờ kiếm được ngọc quý, vua gả ngay con gái cho Ngô Dẫn. Nhưng Dẫn cậy mình giàu có, lấy vợ lẽ và ở với vợ lẽ, lại tỏ ý khinh bỉ công chúa. Đến đời Dụ Tông. Nghe lời than phiền của em, Dụ Tông liền tỏ uy quyền bằng cách  ra lệnh tịch thu toàn bộ của cải.

Về việc vua Dụ Tông đào hồ làm nơi vui chơi mà trên kia cuốn LSVN của khoa Sử ĐHSP đã viết, Ngô Thì Sĩ còn ghi rất rõ:

+ trên hồ này, trên bờ trồng tùng trúc và các loại cây cùng hoa quý cỏ lạ.

+ Lại nuôi nhiều chim quý, thú lạ ở trong vườn.

+Đối với hồ nước mặt, sai bắt các con vật ở biển như đồi mồi cá, ba ba đen về nuôi, lại sai người ở Hóa Châu (Thuận Hóa) chở cá sấu thả vào.

Ngô Thì Sĩ cho rằng cả Tùy Dạng Đế,– nhân vật nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử Trung Quốc — cũng không tìm được niềm vui tương tự.

Sau khi bảo rằng cách vui của Dụ Tông lúc ấy “có thể nói là vui mà quên chết” Ngô Thì Sĩ viết tiếp  “Người mải kiếm tiền và mải vui sẽ là người lơi lỏng lơ là trong việc trị nước”.

Ông thầm nói với hậu thế chúng ta “Giả sử chuyển trí tuệ khôn khéo ấy để trị dân trị nước thì làm gì lo đến sự bại vong” (tr 456).

Mở rộng ra nữa, ông cảnh báo về hậu quả mọi tội lỗi của các nhân vật quốc gia: “trong thì mê gái đẹp, ngoài thì mê săn bắn, thích rượu, ham âm nhạc. Làm nhà cao, đắp tường đẹp. Phạm điều này trong bốn điều này chưa từng ai không bị diệt vong ( cũng tr 456).

Về đức hạnh của các quan đầu triều đương thời, Ngô Thì Sĩ có nêu một trường hợp là Trần Khắc Chung.

Ông này thường “cùng với học sĩ Nguyễn Sĩ Cố đánh cờ hàng mấy ngày liền, đến nổi ngồi ngay bàn cờ mà ăn cháo, không nghỉ chút nào, được thua một vài quan tiền cũng cố làm. Bạn bè có việc mở tiệc đầy năm cho con hoặc mừng nhà hoàn thành, hễ mời là đến. Nhà thầy thuốc có món ăn cũng mò mà đến, quân lính thết đãi ăn uống thì khen vợ họ để nịnh (sđd tr. 431).

Trang 445 của cuốn ĐVSKTB kể năm 1354 có nạn đói, ngoài ra nhân dân lại khổ vì trộm cướp, có người xưng là cháu ngoại của Hưng Đạo Vương tên là Tề tụ hợp các gia nô bỏ trốn ở các xứ Lạng Sơn, Nam Sách.

Con cháu các cụ có người cũng không sống nổi, hỏi người thường ra sao?

Trong việc các vua Trần nửa cuối thế kỷ XIV đối xử với Chiêm Thành, các nhà sử học hiện đại thường cũng quên không ghi rõ một điều mà Ngô Thì Sĩ cùng nhiều ngòi bút sử học chân chính hồi xưa đã viết. Đó là nhiều lần người Chiêm đã vào cướp phá cả những vùng như Thuận Hóa, và quân ta thua chạy. Đến đời Nghệ Tông, quân Chiêm đến sát kinh sư. Đến đời Duệ Tông thì xâm phạm xe vua.

Có lần một vua Chiêm là Chế Mỗ bị người trong nước đánh đuổi, vua Trần chở che và cho người đưa về, nhưng thất bại, Chế Mỗ chết trong cảnh đơn độc trên đất Việt.

Nói chung trong cách đối xử với các vua Chiêm, vua ta nhiều khi tiền hậu bất nhất, dám tùy tiện làm nhiều chuyện mà trong quan hệ giữa các quốc gia  không được phép.

Nhìn chung về đội ngũ quan chức của nhà Trần suốt thế kỷ XIV, đọc Ngô Thì Sĩ, người ta có thể nhận xét là sau khi đánh xong giặc Nguyên, chả ai biết làm gì để khôi phục lại tình hình đất nước đã tiêu điều tan nát trong chiến tranh. Trên thì không có chính sách, cấp dưới thì không có người hiểu biết mà cố vấn cho vua.

Một đoạn có giọng văn bia Ngô Thì Sĩ về Dụ Tông, mà cũng là về tình trạng đổ đốn của con cháu các bậc anh hùng năm xưa:

“Dụ Tông lên ngôi 15 năm, sử chép 6 lần nhật thực, hạn hán đế 3 lần. Một lần sâu keo mất mùa hàng năm. Đến khi ấy từ mùa xuân đến mùa thu núi lở động đất lụt hạn, sét đánh, không tháng nào là không có. Trời phạt tội dâm ác đến cực độ, răn đe nảy ra chính sự lười biếng, thế mà cha con vua tôi trong một thời vẫn bình thản như thường. Kẻ trên không có lòng thành khẩn xét mình, kẻ dưới không có lời tâu cứu giúp thời cuộc, coi thường điều trời răn không biết sợ. Khinh bỏ việc người không biết lo.( VTN nhấn mạnh). Sang năm sau, Minh Tông qua đời, Dụ Tông thỏa lòng xa xỉ, giặc giã nổi lên từng bầy, việc thờ cúng không ra lề lối, ngôi báu nhà Trần suýt di chuyển về họ Dương” ( tr 448).

Mấy điều tổng kết tạm thời:

I/Nếu lịch sử Việt Nam thường chỉ được quy kết vào lịch sử chống ngoại xâm, thì việc ghi chép về các thời hậu chiến của người đương thời đã ít, đến các sử gia hiện đại, việc này lại càng bị lảng tránh.

Điều đó có thể  giải thích như sau:

  • Đối với người xưa, nó chứng tỏ xã hội Việt Nam thực ra vẫn chưa thực sự hình thành, quốc gia chúng ta vẫn giống như một đạo quân hơn là một xã hội sống bằng làm ăn kinh tế và hướng tới phát triển.
  •  Đối với các sử gia đương đại, nó càng chứng tỏ chúng ta chỉ mới có một nền sử học phục vụ cho cuộc chiến đấu trước mắt. Dù đã mấy chục năm ra khỏi chiến tranh nền sử học ấy vẫn chỉ xoay đi xoay lại các bài bản cũ, cách làm cũ.  Chúng ta thiếu các nhà trí thức biết nhìn lịch sử trên cả chặng đường dài và bằng con mắt của con người hiện đại.

II/ Khi miêu tả các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, các nhà sử học hôm nay thường chỉ ghi chép những điều tốt đẹp mà không ghi những mất mát đau thương mà chiến tranh mang lại.

Mà mất mát đau thương nhất của chiến tranh ở VN là gì?

Là cả cơ chế xã hội bị giải thể, trong đó bộ phận quan chức là bộ khung xã hội thì trở nên suy đồi  không thể cứu vãn.

Ta thường chỉ nói tới mặt tích cực của quan chức trong thời chiến.

Cái đó thì đáng trọng thật.

Nhưng mặt khác phải thấy sinh ra trong thời chiến, họ chỉ biết việc binh đao mà không biết gì việc làm ăn và quản lí xã hội.

Được làm vua thua làm giặc, kẻ võ biền chiến thắng tự dành cho mình tính chính danh trong việc quản lí đất nước.

Cậy là có công cứu nước, họ buộc cộng đồng mãi mãi mang ơn và tự cho mình có toàn quyền bóc lột đàn áp dân chúng.

Trong việc học hỏi và tiếp thu văn hóa Trung Quốc, chúng ta thường chỉ học lỏm về một số phương diện văn hóa; còn  chính bộ phận văn hóa quyền lực là phần văn hoá rất thâm hậu trong văn hóa Trung Quốc thì chúng ta lại không hề tiếp nhận không học theo một cách bài bản.

III/ Một thực tế của các vương triều hình thành sau khi chiến thắng là chỉ được một hai đời, đến các đời sau đều đồi bại đi rõ rệt. Trên đã nói những người đánh giặc giỏi chưa chắc đã là những người quản lý xã hội giỏi. Giờ phải nói thêm con cháu các bậc anh hùng trong thời chiến không mấy khi là những kẻ tử tế biết sống ra người trong thời bình. Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành là thế. Nhà Trần là thế. Sau này là Nguyễn Huệ. Quang Trung xuất sắc bao nhiêu thì đến Quang Toàn hèn kém bấy nhiêu.

Tôi nhớ một nhà xã hội học lớp trước đã nhận xét là ở Việt Nam chỉ có giai cấp cầm quyền mà không có bộ phận quý tộc được hình thành nhiều đời và có văn hóa. Chỉ có triều Nguyễn ở đầu thế kỉ XIX rút kinh nghiệm được các triểu trước và tạo sự liên tục suốt bốn đời vua liền. Đó là  bước tiến bộ của lịch sử. Nhưng với con người thời nay, với các sử gia Hà Nội trong 70 năm qua,  thì triều Nguyễn lại không hề được quan tâm và rút kinh nghiệm. Chỉ toàn những lời đả kích phê phán.

Bài toán tâm thần của hai cha con vua Lê Đại Hành và vua Lê Ngọa Triều trong lịch sử – Bùi Minh Đức

Trích từ “Lịch sử nhìn lại dưới góc độ y khoa”

.

I. NGHIÊN CỨU BỆNH TRẠNG CỦA HAI VUA LÊ ĐẠI HÀNH VÀ LÊ LONG ĐĨNH

Trong thời kỳ quân chỉ của nước ta hồi xưa, các vị vua Việt Nam đều có uy quyền tuyệt đối trên đám thần dân. Mệnh lệnh của vua có uy quyền tuyệt đối và ai ai cũng phải tuân theo lệnh cho dù là những mệnh lệnh lạ lùng nhất. Tuy nhiên, trong lịch sử Việt Nam đã có hai vua thời Tiền Lê có những hành động rất khác thường trong cuộc sống hàng ngày. Những hành động của hai vị vua này có sắc thái rõ ràng của những bệnh nhân bị hỗn loạn tâm thần theo tiêu chuẩn y khoa ngày nay.

Đó là hai cha con vua Lê Long Đĩnh. Những hành động khác thường và biểu hiện triệu chứng bệnh tật của vị vua này đều đã được ghi rõ ràng trong sử sách Việt Nam.

Là một bác sĩ của y khoa ngày nay, chúng tôi muốn biết rõ bệnh trạng của vị vua này theo tiêu chuẩn y khoa ngày nay là bệnh gì.

Chúng tôi sẽ căn cứ vào những tư liệu lịch sử chính thống còn để lại của nước ta để nghiên cứu về bệnh trạng của hai cha con vua Lê Đại Hành và vua Lê Long Đĩnh. Các tư liệu lịch sử mà chúng tôi đã dựa vào để nghiên cứu gồm có các quyển sau đây:

A/ Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997.

B/ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập I, Bản in Nội Các quan bản, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.

C/ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tập Một, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Sử Học, NXB Giáo Dục, 1998.

Trong ba quyển sách này, quyển Đại Việt Sử Ký Tiền Biên có ghi đầy đủ các sự kiện nêu ra trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nên chúng tôi sẽ chỉ nêu quyển  Đại Việt Sử Ký Tiền Biên mỗi khi cần nêu tên sách tham khảo.

Ngoài ra, chúng tôi cũng có tham bác thêm quyển Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu của Đặng Xuân Bảng (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000). Tuy nhiên, các điều chính yếu nói về vua Lê Đại Hành và vua Lê Long Đĩnh trong quyển sử của Đặng Xuân Bảng cũng đều đã có ghi đầy đủ như trong ba quyển sách sử trên.

Chúng tôi cũng còn dựa thêm vào quyển Biên Niên Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1987) để có sự nối kết khúc chiết về ngày tháng của các sự kiện lịch sử nêu ra trong bài viết.

Trong bài khảo cứu này, chúng tôi sẽ nêu lên trước hết các sự kiện lịch sử có dính dáng đến vua Lê Long Đĩnh và sau đó, chúng tôi sẽ nêu ra các triệu chứng về căn bệnh của hai ông vua như các sách sử đã có ghi. Cuối cùng, chúng tôi sẽ dựa trên các triệu chứng đó để đưa ra các căn bệnh của vua Lê Long Đĩnh theo phép định bệnh của y khoa ngày nay.

II. CÁI NHÌN TỔNG THỂ VỀ BA TRIỀU ĐẠI LỊCH SỬ ĐINH, LÊ, LÝ

Nội dung đơn giản là các sự kiện lịch sử trong giai đoạn này, dễ dàng tìm hiểu trong sách vở và internet. Đề nghị mọi người tự tra, người post bài không post lại.

III. LÊ LONG ĐĨNH GIẾT ANH ĐỂ LÊN NGÔI VUA

Sau khi vua Lê Đại Hành mất, con trưởng lên ngôi thay thế vua cha, đó là vua Lê Trung Tông, tức Lê Long Việt, được lập làm Thái Tử vào năm Giáp Thìn 1004. Do sự tranh giành ngôi báu giữa các anh em nên mãi đến 8 tháng sau khi vua Lê Đại Hành qua đời ông mới được lên ngôi vua. Vua Lê Trung Tông mới làm vua được 3 ngày thì bị người em cùng mẹ là Lê Long Đĩnh giết chết để chiếm ngôi. Vua Lê Trung Tông hưởng dương 23 tuổi.

Lê Long Đĩnh là con thứ 5 của vua Lê Đại Hành và là em cùng mẹ với vua Lê Trung Tông. Sau khi lên ngôi vua, vua Lê Long Đĩnh thường phải nằm để ngự triều do tình trạng bệnh trĩ rất nặng của vua gây ra, nên thần dân gọi ông là “Vua Ngọa Triều”. Vua Lê Long Đĩnh trị vì được 4 năm thì mất. Ông là một ông vua hoang dâm, bạo ngược. Sau khi cưới được ngôi vua từ tay người anh, ông tha hồ làm nhiều điều ác và lại còn có thêm tính thích giết người. Long Đĩnh không những thích giết người lại còn chất chứa thù hận vua cha không lập mình làm Thái tử. Hồi đó, ông đã có ý làm phản, dần dần lộ ra. Sử sách ghi: “Lê Đại Hành tuy biết nhưng không nỡ giết, lại dung thứ cho. Long Đĩnh cũng không yên tâm”. Ngoài ta, ông ta cũng đã nhiều lần để lộ các triệu chứng về bệnh tâm thần của mình. Cũng theo Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, cũng vì thích hoang dâm, thích uống rượu không điều độ nên Long Đĩnh cũng đã bị bệnh trĩ thêm nặng.

IV/ CÁC TRIỆU CHỨNG VỀ BỆNH TÂM THẦN CỦA VUA LÊ LONG ĐĨNH

Vua Lê Long Đĩnh có hai bệnh khá nặng. Đó là bệnh thâm thần và bệnh trĩ.

A/ Bệnh tâm thần:

Vua Lê Long Đĩnh đã có những triệu chứng về bệnh tâm thần qua các sự kiện sau đây, có ghi trong  Đại Việt Sử Ký Tiền Biên:

1. Long Đĩnh đi đánh hai châu Đô Lương (tức huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang bây giờ) và Long Vị (tức huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) bắt được người Man và sai người lấy gậy đánh. Người Man đau quá gào thét, nhiều lần xúc phạm đến tên húy của vua Lê Đại Hành. Long Đĩnh lấy làm thích thú và hả dạ lắm. Lê Long Đĩnh đã rất thù cha mình vớil ý do vua Lê Đại hành ngày trước đã không thuận cho Lê Long Đĩnh làm Thái tử để thay thế mình sau mà lại cho người anh là Long Việt làm Thái tử.

2. Long Đĩnh tự làm tướng đi đánh Hoan Châu và Châu Thiên Liễu, bắt được người, làm chuồng nhốt vào rồi đốt.

3. Khi hành hình người ta thì lấy có tranh quấn vào người rồi châm lửa đốt.

4. Sai tên hề người Tống là Liêu Thủ Tâm cầm dao mà xẻo thịt, người ấy đau đớn kêu la thì Liêu Thủ Tâm lại nói đùa rằng: “Tên này chịu chết không quen”. Long Đĩnh cười ầm lên.

5. Đi đánh dẹp bắt được tù binh thì giải đến bờ sông chờ lúc nước triều xuống, sai người làm chuồng dưới nước xua tù binh vào đó. Khi nước triều dâng, tù binh sặc sụa mà chết.

6. Sai người trèo lên ngọn cây rồi chặt cây ấy, người trên ngọn cây rơi xuống chết thì reo cười lấy làm vui

7. Những súc vật định mổ thịt thì Long Đĩnh cầm dao đâm trước rồi mới đưa vào nhà bếp để nấu nướng sau.

8. Long Đĩnh thường róc mía trên đều sư Quách Ngang, giả vờ làm như nhỡ tay cho lưỡi dao trượt xuống đầu sư chảy máu, cười làm trò đùa.

9. Mỗi buổi coi chầu, phải sai bọn hề ở bên cạnh, có ai nói gì thì chúng nhao nhao nhại theo mà cười ồ, làm rối loạn lời tâu của các quan.

10. Long Đĩnh hoang dâm, rượu, gái, lâu dần thành bệnh trĩ, phải nằm mà coi chầu. Vì thế lúc chất, người ta gọi là “Ngọa Triều” tức nằm mà coi chầu.

11. Có lần vua Ngọa Triều đi đến sông Ninh (Có lẽ ở huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây – Đại Việt Sử lược chép là sông Chỉ Ninh)/. Sông ấy có nhiều rắn, vua sai trói người vào mạn thuuyền, đi lại giữa dòng sông, muốn cho rắn cắn chết.

12. Nhân yến tiệc, vua giết mèo cho các vương ăn, ăn xong, lấy đầu mèo giơ lên cho xem, các vương đều sợ, vưa lấy làm thích.

13. Vua cho lấy thạch sùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn.

Những triệu chứng trên là những triệu chứng về kích thích tình dục (loạn dâm) có tính cách dây đau và thích đau nên y khoa ngày nay gọi chung là “Chứng bệnh loạn dâm gây đau và thích đau” (SadoMasochism)

B. Bệnh trĩ:

Đại Việt Sử Ký Tiền Biên có ghi rõ: “Vì hoang dâm, rượu chè nên vua Long Đĩnh đã bị bệnh trĩ rất nặng”. Bệnh trĩ của vua Lê Long Đĩnh rất nặng nên ông không thể ngồi trên ghế mà phải nằm trên giường để gự triều và do đó Long Đĩnh còn có tên là “vua Ngọa Triều”.

Bệnh trĩ phát xuất từ hậu môn, thường là do táo bón vì các chất kích thích như rượu, gia vị mà sinh ra. Mỗi khi ngồi trê lưng ngựa, cơn đau phát xuất từ bệnh trĩ tại hậu môn gây ra đau nhức vô cùng, bệnh nhên chịu không nổi nhất là khi phải ngồi lâu trên cùng một chỗ hoặc khi dùng ngựa để di chuyển. Hồi xưa, bệnh trĩ không có thuốc chữa, chỉ có thuốc xức làm cho bệnh trĩ đỡ đâu mà thôi. Ngoài ra, vào thời ấy, người bệnh chỉ biết cách ngâm hậu môn của mình vào trong nước ấm để làm dịu cơn đau. Ngàynay, trong y khoa hiện đại, người ta trị bệnh trĩ bằng phương pháp phẫu thuật cột thắt rồi cắt bỏ các bọc trĩ dần để làm giảm thể tích của các bọc trĩ hoặc dùng tia laser để đốt các bọc trĩ đó tại hậu môn cho “tuyệt nọc” và dùng thêm các chất thuộc làm dịu cơn đau như các thứ thuốc làm mềm dịu niêm mạc các bọc trĩ, như trong thuốc “Preparation H” chẳng hạn.

V/ CÁC TRIỆU CHỨNG VỀ BỆNH TÂM THẦN CỦA VUA LÊ ĐẠI HÀNH

Những triệu chứng thích làm điều ác đức tàn nhẫn của vua Lê Ngọa Triều có lẽ đã được di truyền từ vua cha Lê Đại Hành mà khoa học ngày nay gọi là “Genes di truyền”.

Đại Việt Sử Ký Tiền Biên cũng đã có ghi chép về cá tính của vua Lê Đại Hành ngày trước: “Vua Lê Đại Hành cũng đã có lúc tỏ ra tánh tình nghiêm khắc tàn nhẫn, ưa nịnh hót. Người khéo chiều thì cất nhắc cho được gần gũi, người có lỗi nhỏ thì giết, đánh vào lưng đến 100-200 roi. Vua Lê Đại Hành khi sai khiến các quan hơi không vừa ý liền đánh thật đau rồi truất xuống làm người gác cửa, khi nguôi giận thì lại triệu về chức cũ. Vua Lê Đại Hành còn ưa chuộng quần áo bằng lụa hồng, mũ thì bằng trang sức bằng trân châu. Cung điện của vua ở chú trọng xa hoa tráng lệ nhưng cảnh cảnh thự của các quan, doanh trại của sáu quân lại chật hẹp, mộc mạc. Sứ Tống mỗi lần sang ta thường chế cười về điều đó […] Ngay lúc vừa được Dương Thái hậu sủng ái, cho ở ngôi Nhiếp chính, Lê Đại Hành cậy có Thái hậu yêu, thường lăng nhục những người cùng ngang hàng với mình, không sợ ai”

Những chữ mà người viết sách Đại Việt Sử Ký Tiền Biên đã dùng với vua Lê Đại Hành như “Llăng nhục các quan cùng ngang hàng với mình, nghiêm khắc tàn nhẫn, có lỗi nhỏ thì giết, đánh vào lưng 100-200 roi, đánh thật đau các quan khi hơi không vừa ý…” đều là những triệu chứng của căn bệnh tâm thần gọi là “Hỗn loạn thích gây đau” trong khoa Tâm thần học ngày nay. “Gây đau” ở đây là làm cho người ta đau khổ về tinh thần do sự nhục mạ của mình gây ra cho họ chứ không cần phải là gây đau trên cơ thể, theo từ ngữ y khoa ngày nay, đó là “bạo hành tinh thần”. Cố ý gây đau trên cơ thể của người khác cũng như cố ý làm cho người khác đau khổ tinh thần do sự nhục mạ của mình để cho mình đuọc khoái chí và vui sướng, đều là những căn bệnh tâm thần theo y khoa ngày nay.

VI. BỆNH LOẠN DÂM GÂY ĐAU VÀ THÍCH ĐAU (SADO-MASOCHISTIC PERSONALITY DISORDER) CỦA VUA LÊ LONG ĐỈNH THEO Y KHOA NGÀY NAY

Theo y khoa ngày nay (Kaplan and Sadock’s Synopis of Psychiatry: Behavioral Sciences and Clinical Psychiatry, Benjamin J. SadockHarold I. KaplanVirginia A. Sadock, Williams & Wilkins, 1994) thì các triệu chứng bệnh hoạn của vua Lê Long Đĩnh đều hướng về một căn bệnh trong Tình dục (Sexuality) gọi là bệnh “Loạn dâm gây đau” mà tiếng Anh Mỹ gọi là bệnh “Sadism”. Bệnh “Loạn dâm gây đau” thường song hành với bệnh “Loạn dâm thích đau” (Masochism). Cả 2 bệnh thường đi đôi với nhau nên các bệnh nhân thuộc loại này y khoa ngày nay thường ghép lại và gọi là bệnh “Loạn dâm gây đau và thích đau” (Macho-Sadism)

Gây đau trên cơ thể hay gây đau khổ về tâm lý để kích thích tình dục là một hiện tượng thường được phát hiện trong thời kỳ trường thành, nhưng ngay trong thời kỳ còn nhỏ, trước tuổi 18, những bệnh nhân này cũng đã có những ý nghĩ mơ màng về gây đau rồi (Sadistic fantasies). Khi xu hướng hỗn loạn gây đau đi quá xa, ta có hiện tượng hiếp dâm, (Rape) hoặc tra khảo (Torture)  người khác (The Merck Manual, Sixteenth Edition, 1992)

Bệnh Loạn dâm gây đau này có tên là “Sexual sadism” lấy tên của hầu tước Sade ngày xưa bên Pháp. Ông là một bệnh nhân chỉ có hứng khởi tình dục khi gây đau cho người khác. Loại bệnh nhân này thích làm cho người khác bị đau đớn trong cơn tình dục, bị đau đớn trên thể xác hoặc bị đau khổ về tinh thần, như khi bị chửi bới hoặc đe dọa. Nhà tâm lý học Freud cho rằng người bị chứng Loạn dâm gây đau là những người thường lo âu mình sẽ bị thiến (Castration anxiety) và những người này chỉ có thể đạt được thú vui tình dục khi tự mình hành hạ người khác, vì họ sợ người khác cũng sẽ hành hạ mình như vậy.

Bệnh Loạn dâm thích đau  “Sexual masochism” là căn bệnh do Leopold Sacher Masoch, một tác gải Áo vào thế kỷ 19 mà ra. Trong bệnh thích đau này, bệnh nhân chỉ cảm thấy khoái lạc về tình dục khi chính mình bị hành hạ đau đớn trên cơ thể và bị áp đảo do người khác gây ra. Những người này thích được bị làm nhục, bị đánh đạp, bị trói tay chân, nghĩa là bị mọi cách thức làm cho chính mình phải bị đau khổ. Bệnh này thường thấy ở đàn ông hơn là đàn bà. Theo nhà tâm lý học Freud thì những người này thường có những “mơ tưởng tự mình hủy hoại mình” (Destructive fantasies against the sefl). Những người này là những người đã có kinh nghiệm ngay trong thời kỳ còn nhỏ là những đau đớnvề thể xác phải có trước mội thích thú về tình dục. Khoảng 30% bệnh nhân có xu hướng về chịu đau này cùng có cả những mơ tưởng về gây đau cho người khác. Còn có những trường hợp khác như chịu đau tinh thần (moral masochism) nhưng lại không đi kèm theo những mơ tưởng về tình dục (sexual fantasies)

Bệnh nhân bị Loạn dâm gây đau cảm thấy được khoái lạc tình dục không phải chỉ do sự gây ra đau đớn trên cơ thể người khác, mà mọi sự đau khổ về tinh thần như khi bị thất bại hoặc bị lăng nhục cũng đều có thể gây ra khoái lạc. Theo nhà tâm lý học Fréud thì người bị bệnh Loạn dâm thích đau chỉ đạt được khoái lạc tình dục của mình sau khi sự lo âu và mặc cảm tội lỗi về tình dục của họ đã được giảm thiểu do sự đau đớn về thể xác của người khác do mình gây ra. Theo những khảo sát ngày nay thì loại bệnh nhân này thường bị cả hai chứng loạn dâm gây đau và thích đau cùng xảy ra một lúc trong người mình.

VII/ CHỨNG THÍCH GÂY ĐAU CHO NGƯỜI KHÁC (SADICTIC PERSONALITY DISORDER) CỦA VUA LÊ ĐẠI HÀNH THEO Y KHOA NGÀY NAY

Vua Lê Đại Hành cũng có thể là một người có chứng bệnh tương tự như Sadism khi ông ta thích gây đau khổ tinh thần cho người khác. Lịch sử cũng có ghi rõ là ông thường có tính nghiêm khắc tàn nhẫn, có lỗi nhỏ thì giết, thích lăng nhục người ngang hàng với mình…” Ông thích hành hạ tinh thần người khác trong thời kỳ ông đang làm vua đã đành, mà ngay cả trong thời kỳ ông chưa làm vua và chỉ được bà Dương Thái hậu sủng ái, ông cũng đã để lộ xu hướng bệnh tinh t hần của mình ra bằng cách “lăng nhục các quan đồng triều ngang hàng” với ông ta như Đại Việt Sử Ký Tiền Biên đã ghi lại

Ngoài ra với chứng bệnh tâm thần tiềm tàng “làm cho người khác phải chịu đau khổ” của Lê Đại Hành, ông còn cố ý làm nhục vương triều nhà Đinh bằng cách lấy cho được hoàng hậu cũ của vua Đinh Tiên Hoàng ngày trước làm vợ của mình. Ông ta lại cũng đã cố ý làm nhục Dương hoàng hậu khi phong cho người vợ này của mình là Đại Thắng Minh hoàng hậu, vì Đại Thắng Minh là đế hiệu của vua Đinh Tiên Hoàng, chồng cũ của bà này ngày trước. Cho dù vua Đinh Tiên Hoàng đã qua đời rồi nhưng chắc chắn vua Lê Đại Hành quả đã có chủ tâm làm nhục một cách gián tiếp vua Đinh Tiên Hoàng trong cách chọn tên hiệu hoàng hậu của Dương thị. Điều này quả là do căn bệnh tâm thần “thích làm cho người khác đau khổ” của vua Lê Đại Hành.

Chứng bệnh gây đau bằng xác thịt hay bằng tinh thần này (Saditic Personality Disorder) theo sách vở của y khoa ngày nay thì đó là những người thường có tính tàn nhẫn (cruel), thích lăng nhục hạ giá người khác (demeaning), thích tấn công người khác (aggressive). Những người này lại còn thích lăng nhục hay làm giảm giá trị người khác trước mặt nhiều nhân chứng. Họ cũng thường đối xử tàn nhẫn hay áp dụng kỷ luật nghiêm khắc quá độ đối với những ngưới khác, nhất là đối với trẻ con. Họ thích làm những chuyện hung bạo đối với người khác, thích gây thương tích, tra khảo người khác. Họ làm vậy không phải vì mục đích duy nhất là để có khoái cảm tình dục, vì nếu vậy chúng ta đã phải liệt họ vào trong bệnh Loạn dâm gây đau.

Theo Brenda Love (Encyclopedia of Unusual Sex Practices, Barricade Books, 1992) thì bệnh ngày nay còn có tên khác là “Tyranism” hay “Leptosadism” là một hình thức nhẹ của bệnh Sadism. Nếu người bị bệnh là phụ nữ thì y khoa gọi là “Mastix” và nếu là một người đồng tính luyến ái thì ai khoa gọi là “Sapphosadism” . Trong bệnh “Tyranism” người bị bệnh sau khi hành hạ người khác cảm thấy hể hả trong người do ảnh hưởng của hóa chất b -endorphins được tiết ra trong cơ thể lúc đó. Họ tự cảm thấy mình là người có quyền uy và họ cũng tự cảm thấy tự tin hơn trong ý nghĩ của họ. Không ít thì nhiều, họ cũng đã có những mặc cảm thầm kín trong tâm khảm họ. Ngoài ra, ngày nay người ta cũng đã khám phá thêm là trong khi họ làm oai làm hách hay thị uy làm cho người khác đau khổ thì hệ thống miễn dịch trong cơ thể của họ đã được gia tăng.

Như vậy, ta thấy chính ngay vua Lê Đại Hành cũng có thể đã có chứng bệnh tâm thần “Thích gây đau cho người khác” như vua Lê Long Đĩnh. Nói cách khác, bệnh “Lọan dâm gây đau” của vua Lê Long Đĩnh có thể là sự nối dài của chứng bệnh “Thích làm cho người khác đay khổ” của vua cha Lê Đại Hành.

Cả hai cha con vua Lê Đại Hành và Lê Long Đĩnh đều làn hững bệnh nhân tâm thần theo đúng định nghĩa trong ngành Tâm thần học của y khoa ngày nay.

VIII. CHỮA TRỊ BỆNH TÂM THẦN CỦA VUA LÊ ĐẠI HÀNH VÀ LÊ LONG ĐĨNH THEO YY KHOA NGÀY NAY

Cách chữa trị ngày nay cho bệnh “Sadism” và “Masochism” (Loạn dâm gây đâu và thích đau) là dùng Tâm lý trị liệu (Psychotherapy) và Phân tâm học (Psychoanalysis) để chữa trị lần hồi. Tuy nhiên, cách chữa trị này chỉ có hiệu quả trong một số trường hợp mà thôi.

.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 Bệnh án của  Ngọa Triều Hoàng Đế – Hồ Đắc Duy

Nguồn:  Chim Việt Cành Vàng

. Có phải Lê Long Đĩnh là một vị vua của tàn ác và dâm đãng ?
. Tại sao người ta gọi ông là Ngọa Triều Hoàng Đế ?
. Long Đĩnh có mắc bệnh tâm thần và bệnh trĩ ?

Đại Việt Sử Lược là bộ sách viết về sử xưa nhất của nước ta , được lưu giữ trong ” Tứ Khố Toàn Thư ” của triều Mãn Thanh Trung Quốc , nó có trước bộ Đại Viêt Sử Ký của Lê Văn Hưu , trang 107 chép về cái chết của Ngọa triều Hoàng Đế như sau :

” Mùa đông tháng 10 ngày Tân Hợi năm Mậu Thân (1008), vua qua đời tại phòng ngủ trong điện, Hiệu là Ngọa Triều , vì vua có bệnh trĩ phải nằm để thị triều “

Đại Việt Sử Ký Tòan Thư , Bản kỷ , Quyễn I , trang 235 chép :

Ngoạ Triều Hoàng Đế tên húy là Long Đĩnh , lại có tên là Chí Trung, con thứ năm của Đại Hành ở ngôi 4 năm , thọ 24 tuổi , băng ở tẩm điện. Vua làm việc càn dỡ giết vua cướp ngôi ,thích dâm đãng tàn bạo”

Hay ở trang 236 viết “Vua tính hiếu sát , phàm người bị hành hình , hoặc sai lấy cỏ gianh quân vào ngừơi mà đốt, đề cho lửa cháy gần hết, hoặc sai kép hát ngừơi nước Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xèo từng mảnh, để cho không được chết chóng. Ngừơi ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: “Nó không quen chịu chết” Vua cả cừơi . Đi đánh dẹp bắt đựơc tù binh thì đến bờ sông, khi nứơc triều rút, sai ngừơi làm lao dứơi nứoc , dồn cả vào trong ấy, đến khi nứớc triều lên, ngập nứơc mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, ngừơi rơi xuống chết Vua thân đến xem , lấy làm vui .Có lầnVua đi đến sông Ninh, sông ấy nhiều rắn, vua sai trói người vào mạng thuyền,đi lại giữa giòng muốn cho rắn cắn chết. Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay vua cầm dao chọc tiết trước , rồi mới đưa vào nhà bếp sau . Có lần vua róc mía trên đầu sư Quách Ngang , giả vờ lỡ tay làm đầu sư chảy máu rồi cả cười. Hoặc nhân yến tiệc , giết mèo cho các vương ăn, ăn xong, lấy đầu mèo dâng lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích. Mỗi khi ra chầu, tất sai bọn khôi hài hầu hai bên; Vua có nói câu gì thì bọn ấy nhao nhao pha trò cười để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính. Lại lấy thạch sùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn .”

Chuyện tranh giành ngôi báu , anh em giết nhau để không phải là việc hiếm thấy, cũng như  Đinh Liễn giết Hạng Lang năm 979 hay Nghi Dân giết Bang Cơ năm 1459.

Cái tội của Khai Minh Vương rõ ràng nhưng “Vua làm việc càn dỡ giết vua cướp ngôi , thích dâm đãng tàn bạo ” liệu có thật như thế không hay là đây là chuyện dời sau thêm vào , ngay cái danh hiệu là Ngọa Triều cũng còn nghi ngờ. Có phải Long Đĩnh tự mình đặt cho mình cái thụy quái gở này hay là đơì sau gán cho ông ta.

Ngô sĩ Liên cho rằng ” Ngoạ Triều không những thích giết ngừơi . mà còn oán vua cha..”

Chỉ có những người mắc bệnh tâm thần , với một đầu óc bệnh hoạn mới tưởng tượng ra các trò chơi giết người phong phú như đoạn văn trên mô tả những hành vi độc ác mất hết tính người

LONG ĐĨNH CÓ DẤU HIỆU BỆNH TÂM THẦN VÀ MẮC BỆNH TRĨ KHÔNG ?

Một bệnh án và chẩn đoán phân biệt được mô phỏng theo các tài liệu lịch sử đáng tin cậy có thể được biện luận như sau :

Về phương diện tâm thần xét hành vi của Long Đĩnh trong vai trò lảnh đạo đất nước hoàn toàn đối nghịch với một số hành vi tàn bạo hung ác như trích dẫn sau đây làm thí dụ như :

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục , Chính biên , quyễn 1 trang 274 chép: ” Đinh Mùi (1007 ) Mùa xuân Long Đĩnh sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã đem con tê trắng sang biếu nhà Tống , dâng biểu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng “

Đại Việt Sử Ký Tòan Thư  trang 235 chép ” Nhà vua đi Ái Châu , đến sông Vũ Lung . Tục truyền : người lội qua sông này phần nhiều bị hại , nhân thể vua sai ngươì bơi lội qua lại đến ba lần , không hề gì , xuống chiếu đóng thuyền để ở (các bến sông ) Vũ Lung , Bạt Cừ , Động Lung bốn chổ để chở người qua lại “

Trong Đại Việt Sử Lược trang 107 chép ” Năm Định Vị ( Mùi) tức năm 1007 Vua sửa định lại quan chế văn võ theo nhà Tống”

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, trang 274 chép : ” Vuaxin với nhà Tống cho ta sang “hồ thị” ở Ung Châu, mua bán đổi chác với người Tông , nhưng vua Tống không nghe , chỉ cho mua bán đổi chác ở Liêm Châu và Trấn Như Hồng thôi ” ( Ung Châu thuộc Tỉnh Quảng Tây nằm sâu trong nội địa Trung Quốc )

Hoặc Trong Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô Thì Sỉ , Bản kỷ , Quyển I , trang 39a chép: “Khai Minh Vương sai dân Ái Châu đào kênh , đắp đường từ cửa Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng..”

Long Đĩnh trong 4 năm cầm quyền cho đến trước khi chết , ông vua trẻ này đã 5 lần tự tay cầm quân đánh giặc.

Lần thứ nhất ( năm 1005) dẹp tan bạo loạn giữa các anh em thu phục mọi người ĐVSKTT trang 233 chép “Từ đấy về sau các Vương và giặc cướp đều hàng phục “.

Lần thứ hai ( 1005 ) Khi quan quân đang đánh nhau với ngưới ở trại Phù Lan chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biễn Thần Đầu ( Ninh Bình ) Vua về đến sông Tham , đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long.

Lần thứ ba ( 1008 ) Đánh người Man ở hai châu Đô Lương và Vị Long.

Lần thứ tư ( 1008) Đánh giặc ở Hoan châu và châu Thiên Liêu.

Lần thứ năm (1009) Tháng 7 vua đi đánh giặc ở các châu Hoan Đường và Thạch Hà.

Và đến tháng 10 ngày Tân Hợi năm Kỷ Dậu (1009) , vua qua đời tại phòng ngủ trong điện.

Một cái chết mà Ngô Thì Sỉ đã nêu ra một nghi vấn , ông cho rằng Long Đĩnh bị thanh toán trong Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, trang 185, ông viết như sau :” Lý Thái tổ rất căm phẫm trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai minh Vương , nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật , sai người vào đầu độc giết đi rồi dấu kín việc đó , nên sử không được chép 

Qua những hành vi nêu trên thật khó tưởng tượng và xác định Long Đĩnh là một vị vua chuyên làm việc càn dở như sử ký đã ghi.

Long Đĩnh lại có thể là một người lai Chiêm Thành vì trong Đại Việt Sử Lược Quyễn I trang 21 chép và Đại Việt Sử Ký Tòan Thư trang 232 chú giải như sau : Mẹ của Lê Long Việt và Lê Long Đĩnh là Hầu Di Nữ( Con người hầu gái người Chiêm Thành ).

Như vậy cái chết của Ngọa Triều Hoàng Đế có thể vẫn còn là một bí ần mà nguyên nhân sâu xa hơn ngoài Tội Ác Giết Anh Cướp Ngôi , còn cái gì nữa hay không ? Có lẽ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Lý Công Uẩn ,Hửu Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Nguyễn Đê , Chi hậu Đào Cam Mộc vàKhuôn Việt Thái Sư, Vạn Hạnh Thiền sư và những Đại thần từng giúp cho Lê đại Hành là những người biết rõ điều này cho nên lời bàn của Ngô thì Si không phải là không có căn cứ ( Xem thêm ĐVSKTT trang 238 , hoặc tham khảo tài liệu qua Tòa soạn SK&Đ ).

Không biết Ngô Thì Sĩ khi nói nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật , sai người vào đầu độc giết đi là có ý gì ? bởi vì trước khi vua chết một hoặc hai tháng ông ta vẫn còn cầm quân đi đánh giặc ở các châu Hoan Đường và Thạch Hà.

Nhiều quyển sử ghi là vua bị bệnh Trĩ , đam mê tửu sắc thích dâm đãng tàn bạo , điều này quả thật có như vậy không ?

Bệnh trĩ là bệnh thế nào ?

Bệnh Trĩ là bệnh có liên quan đến cấu tạo củathành tỉnh mạch và huyết động học vùng chậu , các tỉnh mạch ở vùng hậu môn phồng lớn ra tạo thành bứu trĩ , nếu các bứu trĩ chiếm trên 180 độ thì được xếp vào loại 4 , nguyên nhân chưa rõ nhưng người ta ghi nhận những người bị viêm đại tràng mãn tính , táo bón , viêm gan , các nghề ngiệp mà phải đứng lâu ngồi lâu như ,thư ký tài xế..thì dễ bị bệnh trĩ hơn các người.

Theo quan niệm của đông y thì là do Khí hư hạ lãm là khí hư bị hãm , bị chận lại ở dưới không lưu thông được.

Người ta hay nói đau khổ vì bệnh trĩ , điều đó rất đúng , người nào có mắc phải bệnh này mới hiểu được nổi khổ của họ , nhất lại là bệnh nhân phải nằm để thị triều kiểu như người ta mô tả cho Lê Long Đĩnh với thụy hiệu Ngọa Triều.

Bệnh trĩ ở giai đoạn mà bệnh nhân phải nằm thì thường ở giai đoạn 4 , là giai đoạn nặng mà biện pháp điều trị là giải phẩu , mà giải phẩu hay tiêm thuốc để cho teo bứu trĩ thì 1000 năm trước làm gì có , nếu không được giải phẩu kịp thời thì bứu trĩ sẽ lan rộng ra , sưng tấy đau nhức , chảy máu , sa bít hậu môn làm bệnh nhân không dám đi cầu . Vì đau đớn và cấn ở hậu môn làm cho bệnh nhân phải nằm , không thể đi đứng , di chuyển , nhất là bệnh trĩ trong giai đoạn diễn tiến cấp tính

Khó mà tin Long Đĩnh là ” ngọa triều “ được vì trong suốt thời gian ngắn ngũi 4 năm ông cầm quyền ông ta đã tự mình làm tướng đi chinh phạt đến 5 lần và trận chiến cuối cùng mà Long Đĩnh tham dự trước khi ông chết là 2 tháng , đó là trận vua đem quân đi đánh châu Hoan Đường , Thạch Hà vào mùa thu tháng 7 năm Kỷ Dậu ( 1009 ) .Thử hỏi một ” ngọa triều “ làmsao mà đi đánh giặc được

Nếu Lê Long Đĩnh mắc bệnh trĩ mà phải nằm để thiết triều thì e rằng khó mà giải thích được những cuộc chinh chiến liên miên của ông ta

Để thực hiện được những cuộc chinh chiến liên miên , lâu dài và thành công như vậy chắc chắn vua phải có một sức khỏe thật tốtû cho nên nói là vua là kẻ ham mê tửu sắc , đau bệnh trỉ , lâm triều phải nằm là chuyện cần phải xét lại

Người gọi là đam mê tửu sắc thì suốt ngày chè chén say sưa , hoan lạc liên tục thì đầu óc trống rỗng , sức khỏe lụn bại làm gì có những quyết định sáng suốt cấp tiến như Cho nguờì sang Tống xin chín bộ sách vĩ đại nhất của Trung Quốc là Dịch , Thi , Thư , Lễ , Xuân thu , Hiếu kinh , Luận ngữ , Mạnh Tử , Chu lễ và kinh sách Đại Tạng , xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung , Bạt Cừ , Động Lung bốn chổ để chở người qua lại , sửa định lại quan chế văn võ theo nhà Tống , xin cho ta sang “hồ thị” ở Ung Châu, mua bán đổi chác với người Tông , sai dân Ái Châu đào kênh , đắp đường từ cửa Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng..v.v vì có lần Ngô Thì Sỉ nói như thế này : ” Xét việc Long Đĩnh cướp ngôi , cố nhiên không đáng được thụy hiệu đẹp , mà cái tên Ngọa Triều cũng không đúng. Có lẽ Lý Thái Tổ muốn dùng thụy hiệu xấu để gán cho , mà không biết rằng từ xưa những đế vương nào không đáng làm vua thì gọi là phế đế , mạt đế hoặc lấy cái tên khi bị phế mà chép. Còn như cái hiệu “Ngoạ Triều” thì thô bỉ không căn cứ.” cho nên lý luận của Ngô thì Sĩ không phải là không có căn cứ về phương diện Y Khoa.

Rất khó mà giải thích được những tư tưởng cấp tiến về ngoại giao với Trung Quốc, kinh sách giáo dục và các cuộc chinh chiến tảo thanh nội loạn , giặc cướp thổ phỉ trong nước nếu cho rằng Lê Long Đĩnh là một vị vua chỉ làm việc càn dỡ, thích dâm đãng tàn bạovà mắc bệnh trĩ được . cho nên nói là vua là kẻ ham mê tửu sắc , đau bệnh trỉ , lâm triều phải nằm là chuyện cần phải xét lại.

[ Ngắn ] Ăn cháo cũng phải xem phong thủy

Tác giả:  Yu An
Thể lại: Hiện đại, nam nữ, tâm lý, kỳ ảo

sendo

Quán cháo nằm ở cuối hẻm. Hẻm nhỏ, tĩnh lặng bình yên. Quán cũng nhỏ, mộc mạc cổ kính. Từ ngoài nhìn vào, quán được bao bọc bởi một bức tường đá tổ ong xám trắng thật cao, bám đầy rêu thẫm và dây thường xuân xanh mướt. Giữa bức tường là hai cánh cổng lớn bằng tre đằng ngà bóng loáng, phía trên lợp mái ngói cũ kỹ, gắn một tấm bảng gỗ nâu sần khắc chữ thư pháp phiêu diêu uốn lượn. Không biết là chữ gì, vì càng cố đọc chữ càng mơ hồ. Nhiều vị khách muốn biết tên quán, định hỏi nhân viên, nhưng bước vào quán là quên ngay, bước khỏi quán càng không nhớ nổi, nên người ta thường gọi là quán “Hay Quên”.

Đi qua cổng, bỏ lại bụi bặm sau lưng, là bước vào một không gian khác, không gian của nghệ thuật siêu hình. Sân quán nhỏ, trải cát trắng, mặt cát phẳng bị tạo hình thành những gợn sóng vòng tròn, tâm điểm là nhiều hòn đá cuội xếp chồng lên nhau. Một biểu tượng quen thuộc của Thiền. Trong sân còn đặt mấy gốc cây gạo trơ trơ rễ, treo những chiếc mặt nạ đủ các sắc thái khóc cười. Xen kẽ những chiếc mặt nạ là những chùm hoa gạo bung nở đỏ rực như lửa nóng trải khắp cành nhánh. Đặc biệt nhất là mấy bức phù điêu trên tường, có lửa có nước, có núi có sông, có hình người nhảy múa, nhưng nhìn tổng thể không hiểu là diễn tả cảnh gì.

Quán xây bằng đá tổ ong xám trắng kết hợp với gỗ tre, mái lợp ngói âm dương sấp ngửa đã ngả màu xưa cũ. Bàn ghế trong quán cũng bằng tre đá, hai chiếc bàn đá, ba chiếc bàn tre, ghế tựa lưng với nệm nhung đỏ thẫm. Trên vách quán treo đầy những bức tranh thêu hoa sen, do chính tay chủ quán tạo tác. Hoa sen đỏ thẫm như nhuộm máu, đủ các hình dạng búp nở tàn rơi, vô cùng sống động tinh xảo. Và những bức tranh không bao giờ thấy lá, hay sinh vật nào khác ngoài hoa sen. Không gian quán lúc nào cũng thoang thoảng hương hoa huệ trắng kết hợp với khói nhang trầm, nhưng chẳng bao giờ nhìn thấy hoa hay nhang, chỉ ngửi được hương.

Lần đầu đến đây, anh đã nghĩ rằng mình đi lạc, vì nhìn bề ngoài chẳng giống quán cháo. Nhưng bà chị cứ chắc chắn là nơi này. Khi bước vào, gặp chủ quán, anh mới tin mình không nhầm. Lần đó, anh chở bà chị đi ăn cháo bồ câu nấu với hạt sen và đậu xanh, nghe đâu là được người quen giới thiệu. Những lần sau, anh mặt dày mày dạn đến đây uống trà miễn phí. Quán cho uống trà miễn phí. Nhưng anh đến không phải vì trà. Anh đến vì chủ quán.

Chủ quán là em nuôi của ông bạn thân của cô hướng dẫn luận văn của bà chị kết nghĩa của thằng bạn học chung lớp với chị gái anh. Tóm lại, chủ quán không liên quan gì đến anh. Nhưng chủ quán rất đẹp, vô cùng đẹp, cực kỳ đẹp. Một vẻ đẹp xuất trần thoát tục, băng thanh ngọc khiết, hoàn hảo vô khuyết, tuyệt mỹ vô song không thể diễn tả bằng lời. Người ta nói, tình nhân trong mắt hóa Tây Thi, cho nên, không cần tin vào quan điểm thẩm mỹ của anh. Nhưng mà, chủ quán thật sự rất đẹp.

Nhiều lần, anh muốn trả tiền trà, nhưng chủ quán không nhận. Anh cố gắng ăn cháo, nhưng anh không ăn được cháo. Lúc nào ăn cháo cũng nằm viện vì ngộ độc, oái ăm là chỉ có anh ngộ độc, những khách hàng khác chẳng bị sao hết.

Chủ quán nói, chắc là phong thủy của quán không hợp với anh. Lần đầu tiên anh nghe, ăn cháo cũng phải xem phong thủy, nhưng không cãi. Người trong lòng nói gì cũng đúng, huống chi việc theo đuổi chỉ mới bắt đầu, đành chịu. Anh nghiêm túc lặp lại, chắc là không hợp phong thủy thật. Chủ quán cười cười, nhìn anh nói thẳng, vậy sau này anh đừng đến quán nữa, nguy hiểm lắm. Anh á khẩu không đáp lời được, nhưng vẫn ngoan cố đến quán đều đều.  

Anh thường đến quán vào cuối tuần, ngồi ở chiếc bàn tre cạnh cửa sổ, nhìn ra bức tường đá có dòng suối giả mọc đầy dương xỉ và trầu bà. Anh ngồi suốt ngày cũng không ai đuổi, vì quán rất vắng khách, vắng đến mức làm anh ngỡ ngàng, tự hỏi kinh doanh như vậy sao sống nổi. Nhưng sau một thời gian ăn dầm nằm dề, giao lưu tình cảm, anh nghe nhân viên trong quán nói, buổi tối quán rất đông khách, đặc biệt là từ canh ba, có đêm khách xếp hàng dài đến đầu hẻm, nhất là mấy đêm sóc vọng phát cháo miễn phí, không kịp nấu nướng chuẩn bị cầu kỳ nên toàn phát cháo trắng muối tiêu, kẻ nào đến sớm thì được muối mè.

Anh nghe chuyện thắc mắc, buổi tối ồn ào vậy không bị hàng xóm than phiền sao. Nhân viên cười xòa, khách hàng của quán rất văn minh lịch sự, trật tự im lặng, chứ không chen lấn xô bồ như mấy cô hồn sống anh thấy trên mạng. Anh gật gật đầu, cũng đúng, nếu hàng xóm thưa kiện hay làm ăn thua lỗ, quán đã dẹp lâu rồi, đâu tới phiên anh ngồi.

Chủ quán thấy anh vẫn xuất hiện cũng không nói gì, nể tình quen biết, có khi còn tiếp chuyện, nhưng lúc nào trên tay cũng cầm khung thêu. Chiếc khung tròn cỡ hai bàn tay bằng gỗ đen kéo căng tấm vải trắng. Trên nền vải là màu chỉ đỏ thẫm họa hình những cánh sen rơi rụng tả tơi. Những ngón tay mảnh khảnh thon dài từ tốn kéo chỉ đâm kim. Kỹ thuật thêu điêu luyện đến mức không cần mẫu vẽ. Những đóa sen đỏ thẫm chậm rãi được kim chỉ tạo hình theo sự tưởng tượng bất định của chủ quán, nên không thể đoán trước bức tranh cuối cùng sẽ thế nào.

Anh nhìn chủ quán chuyên tâm thêu tranh, thường ngại ngần lên tiếng, sợ phá vỡ không khí an tĩnh bình yên, nhiều hơn là không biết nói gì, ngoại trừ quán cháo và món cháo, ngay cả tranh thêu cũng không nói được. Bởi vì, chủ quan không biết gì hết, chính xác là không quan tâm gì hết. Anh có thể chém gió với nhân viên trong quán về mọi thứ trên trời dưới đất suốt lịch sử nhân loại, thậm chí lịch sử vũ trụ, nhưng với chủ quán, anh luôn á khẩu.

Một lần, anh ngạc nhiên hỏi, tin tức chấn động như vậy cũng không biết sao, khi hung thủ vụ giết người chặt xác giấu thùng xốp được tìm ra. Chủ quán thản nhiên cười hỏi lại, biết mấy tin đó cũng không sống hạnh phúc hơn, biết để làm gì, huống chi còn là chuyện tình bi thảm như vậy. Lúc đó, anh hiểu chủ quán không phải không biết, mà là không muốn nói chuyện với anh.

Bảy tháng đã qua, nhưng sự nghiệp theo đuổi của anh vẫn không tiến triển. Bà chị anh nói, anh không có hy vọng, bỏ cuộc đi. Nhân viên trong quán nói, anh đừng đến quán nữa, khó xử lắm. Mấy đứa bạn anh nói, anh thôi nằm mơ đi, mau thức dậy. Tóm lại, ai cũng khuyên anh từ bỏ, nhưng anh vẫn liều chết đâm đầu.

Bước ngoặt thay đổi xảy ra vào một đêm tháng bảy, trăng như lá lúa, anh gặp cô bạn học thời cấp ba tại quán. Mười ba năm rồi mới gặp lại nhau, đều hơn ba mươi, nhưng nhìn cô già hơn tuổi rất nhiều. Cô mặt cái đầm trắng lỗi thời nhầu nhĩ, tóc cột ơ hờ bằng thun đen, lòa xòa mấy sợi rơi rớt. Cả người cô xanh xao tiều tụy, gương mặt hốc hác, hai mắt thâm quầng, không trang điểm. Cô ngồi đối diện anh qua bàn tre, thân hình gầy yếu như chiếc bóng, dễ dàng bị gió thổi bay.

Anh tự nhiên thấy xót xa, nhìn cô bây giờ, đâu còn dấu vết của hoa khôi nổi tiếng năm xưa. Thời gian đúng là không tha cho ai.

Nhân viên trong quán mang trà đến, lịch sử hỏi, cô dùng gì, lại nói thêm, hiện giờ còn sớm, vắng khách, nên trong quán cháo gì cũng có. Cô nhẹ nói, cháo gì cũng được, lại cười cảm ơn, nụ cười khó coi hơn nước mắt.

Anh nhìn đồng hồ, chín giờ tối, quán chỉ có hai ba khách, ngoài anh. Đây là lần đầu tiên anh ở đến giờ này, bình thường tám giờ đã về, ngồi đủ mười hai tiếng. Hai người trầm mặc không biết nói gì. Cô cầm chén trà, bàn tay run rẩy, uống hết một hơi, trà không nóng. Anh thấy vậy rót thêm cho cô, trong đầu có chút suy đoán. Mấy năm trước họp lớp phổ thông, cô không đến, nghe bạn bè bóng gió ít nhiều, nhìn tình hình hiện giờ chắc còn tệ hơn. Là phụ nữ, bao nhiêu người qua được chuyện gia đình chồng con.

Cô uống hết chén trà thứ ba, nhìn anh hỏi, dạo này thế nào. Anh đơn giản nói, công việc ổn định, người thân khỏe mạnh, chưa lập gia đình, đang theo đuổi đối tượng. Cô mỉm cười, mọi chuyện yên ổn là tốt rồi, lại thì thào, cô vừa ly hôn, ba năm yêu nhau bảy năm kết hôn, nhưng sống không nổi nữa. Anh im lặng, không lên tiếng an ủi. Phụ nữ không cần lời khuyên, họ tự biết mình phải làm gì, họ chỉ cần có người nghe mình nói.

Câu chuyện cứ thế được kể ra. Cô yêu hắn ba năm. Nhà hắn giàu hơn nhà cô. Kết hôn xong, cô về làm dâu. Mẹ chồng khó khăn, cô cam chịu. Cưới được hai năm, cô mang thai, hắn ngoại tình. Cô mang thai được ba tháng, hắn đánh cô vào viện, cô sảy thai. Gia đình cô vào cuộc hòa giải, mọi chuyện tạm thời yên ổn. Hai năm sau, cô lại mang thai, hắn lại ngoại tình. Cô sinh khó. Lúc ký đơn cam kết, hắn yêu cầu bảo vệ đứa bé, mạng sống người mẹ không quan trọng.  

Cô kể xong, nhân viên mang cháo đến. Tô cháo bằng sứ men đen, vẽ hoa sen đỏ. Cháo thuần màu trắng, bốc khói nghi ngút, thơm lừng hương gạo mới. Anh không ngờ chủ quán chuẩn bị lâu như vậy lại chính là thứ này. Anh có cảm giác bị lừa đảo, nhưng thôi kệ, người ăn cũng không phải anh. Hai người lại không ai nói gì. Cô cẩn thận ăn hết tô cháo. Anh lẳng lặng rót trà cho cô, lẳng lặng thay cô trả tiền.

Ăn uống xong, cô mỉm cười cảm ơn, nói khi có cơ hội sẽ trả ơn anh. Nụ cười của cô tươi tắn hơn vừa rồi rất nhiều, vẻ mặt thanh thản như trút được gánh nặng, cả người cũng xinh đẹp hơn. Anh cảm giác cô như sống lại, tràn đầy sức sống.

Nhìn cô một lúc lâu, anh mới giật mình nhớ ra, lắc đầu xua tay nói không cần, đề nghị đưa cô về. Cô từ chối, đứng lên rời khỏi quán. Anh vội vàng lấy xe, nhìn cô bước qua cổng. Anh gọi với theo, cô không dừng lại. Anh chạy xe ra hẻm, cô đã biến mất.

Anh đứng tần ngần trong hẻm một hồi lâu, hẻm yên tĩnh tối tăm, không có đèn đường, nhưng người qua lại ngày càng đông. Họ nối đuôi nhau đi vào trong quán, bước chân âm thầm lặng lẽ, như những chiếc bóng trôi nổi bồng bềnh. Ánh đèn vàng vọt trong quán hắt ra hẻm làm không gian thăm thẳm nhuộm một màu tang tóc thê lương. Gió đêm thổi qua, khiến anh rùng mình. Anh nổ máy xe, chạy về nhà, trong đầu hiện lên ánh mắt và nụ cười của chủ quán lúc chào tạm biệt, cảm thấy là lạ, vì chủ quán rất ít cười với anh, mỗi lần cười đều nói gì đó khiến anh á khẩu, lần này lại không.

Từ lần đó, một tháng sau anh mới đến quán, vì bệnh. Cảm ho sổ mũi nóng sốt kéo dài từ ngày này qua ngày khác, hành hạ anh. Nhưng một tháng bệnh tật được đền bù. Chủ quán ngồi xuống tiếp chuyện anh, không cầm khung thêu, sau chào hỏi xã giao liền hỏi thăm sức khỏe, ngữ điệu nghiêm túc ân cần, như một thầy thuốc thăm khám bệnh nhân. Anh có cảm giác lâng lâng trên mây. Nhưng chưa kịp mừng liền rơi phịch xuống, khi chủ quán đưa ra lời kết luận, nhìn anh âm thịnh dương suy, phong thủy của quán không hợp với anh, đừng đến quán nữa.

Anh á khẩu. Chủ quán nhìn anh cười cười. Ngoài trời đổ mưa. Chủ quán uống một ngụm trà, xoay xoay chén, từ tốn kể, ngày mười bảy tháng giêng ba năm trước, có một cô gái đến quán ăn cháo. Nàng mặc chiếc đầm dài màu đỏ, chân mang giày đỏ, đeo vòng tay đá đỏ, son môi cũng đỏ. Tóc nàng rất dài, đen tuyền, bím lại để một bên vai. Nàng gọi “cháo gì cũng được”. Nàng ăn xong không có tiền trả, nói mình vừa mất con. Chủ quán tội nghiệp không lấy tiền.

Chủ quán hỏi, anh có quen cô gái đó không? Anh giật mình đánh rơi chén trà, vẻ mặt thảng thốt. Chủ quán lại cười, chậm rãi tiếp, nàng phá thai, đứa bé hai tháng, chỉ là một đống máu thịt bầy nhầy, không biết trai hai gái, được bí mật vùi vào ao sen trong chùa. Đứa bé được đặt trong lọ sứ màu trắng vẽ hoa sen đỏ, không giống gói ni lông thường thấy trong thùng rác hay kênh rạch, cũng không bị xả xuống bồn cầu. Trước khi rời khỏi quán, nàng cười nói, thật may mắn. Nàng là trẻ mồ côi, không còn ràng buộc.  

Câu chuyện kết thúc, không ai nói gì. Anh thẩn thờ đứng lên, chào ra về. Chủ quán lên tiếng giữ lại, nụ cười trên môi vẫn không thay đổi. Anh thấy đôi mắt mình đau nhức, giống như bị ai đó đâm kim. Anh nhắm mắt lại, loạng choạng ngã  xuống, đầu óc ong ong quay cuồng. Cả người anh mất hết sức lực, như một tấm vải bị nhúng nước, rũ rượi trên sàn. Anh không còn phân rõ phương hướng, mọi giác quan trở nên vô dụng, nhưng anh biết có người đỡ mình ngồi vào ghế.

Anh nghe một giọng nói thì thầm, anh đang nhìn chủ quán thành ai, anh đang nhìn chủ quán thành ai, anh đang nhìn chủ quán thành ai?  

Anh mơ, một giấc mơ thật dài. Anh thấy ngôi chùa mình vẫn thường chở bạn gái đến cúng. Chỉ nàng thắp nhang, anh thì không, anh không tin thần phật. Ngôi chùa có một ao sen nhỏ trước sân, giữa hồ là tượng Phật Quan Âm đang đứng, tay trái cầm bình cam lộ, tay phải cầm nhành dương liễu. Ao sen cạn, không tươi tốt lắm, thậm chí nhìn hơi xơ xác, thường không thấy hoa, chỉ có lá. Nhưng trong giấc mơ của anh, ao sen chỉ có hoa, hoa màu đỏ, đỏ thẫm như máu. Những đóa hoa nở rộ chen chúc trong ao, chật như nêm cối, vươn tua tủa ra bên ngoài, như muốn phá tan thành ao. Hoa sen đỏ thẫm, nở rồi tàn. Những cánh hoa rơi rụng chồng chất lên nhau, tầng tầng lớp lớp, như một thảm máu lan tràn, nhanh chóng phủ ngợp sân chùa. Những cánh hoa quấn lấy tay anh, mềm mại như da một đứa bé.

Anh căng mắt nhìn, là một đứa bé, không phải những cánh hoa. Đứa bé mặc quần áo màu đỏ, mang giày đỏ, đang nắm lấy tay anh. Những ngón tay xinh xắn nhỏ nhắn xiết chặt, hằn lên dấu vết. Anh không nhìn rõ mặt, nhưng biết đứa bé đang cười, cười khanh khách. Bàn tay anh đột nhiên lạnh buốt, nhìn lại thấy thêm một bàn tay, tay của nàng. Hình ảnh này dần dần hiện ra hoàn chỉnh, nhưng vẫn không rõ mặt, chỉ biết nàng đang cười, cười khanh khách. Những cánh hoa đột nhiên bay lên, bao phủ tất cả. Không còn ao sen, không còn tượng phật, không còn sân chùa… chỉ còn màu đỏ thẫm như máu của những cánh hoa sen.

Anh giật mình tỉnh dậy, người ướt đẫm mồ hôi. Chủ quán vẫn ngồi trước mặt, nhẹ nhàng hỏi anh, sau này còn đến quán hay không. Anh đưa tay vuốt mồ hôi trên mặt, khẽ nói, sẽ đến. Chủ quán cười cười lắc đầu, anh tự hành hạ mình cũng vô dụng, quán này không bán cháo hối hận, trên đời không có quán nào bán. Anh không nói gì, đứng lên chào ra về. Lần này, chủ quán không giữ lại.

Anh biết, nàng đã chết rồi, chết vào ngày mười bảy tháng giêng ba năm trước. Nàng chết sau đứa bé một ngày. Nàng nhảy cầu, chết mất xác. Lúc nàng nhảy nhiều người nhìn thấy, không ngăn kịp, hoặc vì lo chụp ảnh quay phim nên không ngăn kịp. Anh không biết, chỉ biết mình chứng kiến cảnh nàng nhảy cầu qua clip trên mạng, mấy giờ sau đó, lúc đang đi công tác cách nửa đất nước. Hình ảnh cuối cùng của nàng như một cánh sen đỏ rực rơi vào lòng sông. Mặt nước gợn sóng, rồi phẳng lặng. Nàng tan biến, không một bọt tăm.

Hai người yêu nhau từ khi nào, anh không nhớ, thậm chí không nhớ có yêu hay không, chỉ nhớ lần đầu lên giường là ngày họp lớp, cả hai đều say. Sau đó, anh thường xuyên gặp nàng, uống cà phê, ăn cơm, dạo phố, xem phim và lên giường. Sau đó, nàng nói mình mang thai, anh bảo nàng phá thai. Sau đó, nàng tự sát, anh đưa tang. Đến giờ anh vẫn không hiểu, mọi thứ đều đang êm đẹp, sao nàng lại tự sát?

Một tuần sau, anh lại đến quán. Chủ quán không nói gì, chỉ cười cười, mặc kệ anh. Anh nhận ra chủ quán không giống nàng, một chút cũng không. Sao ban đầu anh lại thấy giống, lại choáng váng? Nàng không bao giờ mặc màu trắng. Nàng nói màu trắng tang tóc quá. Nàng thích màu đỏ, tốt đẹp rực rỡ, mang đến điềm lành. Nàng không bao giờ uống trà hay cà phê. Nàng nói đắng, nàng không thích bất cứ thứ gì cay đắng. Nàng thích vị ngọt, vị ngọt mới là hạnh phúc vui vẻ. Nàng không thích cháo, bởi vì người bệnh thường ăn cháo, người chết cũng ăn vào tháng cô hồn. Với nàng cháo là món ăn không may mắn. Nàng cũng không bao giờ phớt lờ anh. Cuộc sống của nàng chỉ xoay quanh anh, mọi lúc, mọi nơi.

Sao anh lại nhìn lầm? Vì tâm trí anh cố tình lừa dối anh, chủ quán cười cười trả lời. Chủ quán ngồi xuống đối diện anh, rót một chén trà, ung dung uống cạn.

Anh nhắm mắt, không muốn nhìn, lại mơ. Cảnh nàng đứng trên cầu, váy đỏ bay bay, tóc dài bím lại. Đôi giày cao gót cùng màu son cũng đỏ rực giữa trời chiều. Nhưng vươn tay ôm lấy nàng, nhưng cánh tay chạm đến liền xuyên qua. Nàng chỉ là ảo ảnh trong giấc mơ của anh. Nhưng nàng biết, anh ở đây. Nàng mỉm cười nhìn anh, dịu dàng triều mến, như lần đầu gặp lại sau tốt nghiệp. Anh hỏi tại sao. Nàng chỉ cười, rồi nhảy xuống, không giữ kịp. Anh hét lên, giật mình tỉnh lại. Anh lại đứng trên cầu, nàng ở ngay bên cạnh. Nắng chiều tàn úa nặng nề. Gió thổi mạnh. Anh vội vàng hỏi, nàng cười, lại nhảy. Cảnh tượng lặp đi lặp lại không ngừng. Anh hét khàn cả cổ. Không gian chỉ còn tiếng hét của anh. Một từ “không” vang đi vọng lại trong bóng chiều tĩnh lặng rợn người. Anh biết mình sẽ ở đây, bị nhốt trong giấc mơ này, đến chết.

Mưa đột nhiên rơi xuống. Ngày nàng chết không mưa. Khung cảnh dần dần vỡ vụn dưới màn mưa, như một tấm kính bị đập nát. Mỗi mảnh vỡ biến thành một đóa hoa sen nở rộ. Những cánh hoa đỏ thẫm phủ ngợp không gian. Ai đó nắm lấy tay anh. Bàn tay lạnh, những ngón tay mảnh khảnh thon dài, cứng như xương. Là một cô gái. Bóng trắng lờ mờ ẩn hiện sau những cánh hoa. Anh chợt nhận ra bộ váy trắng này, bộ váy của cô bạn học thời cấp ba, gặp nhau hơn một tháng trước trong quán cháo.

Anh lên tiếng hỏi. Cô cười đáp phải, lại nói, anh đừng đến nữa, phong thủy của quán không hợp với anh, cô chỉ giúp anh được một lần thôi. Anh hỏi tại sao, thì tỉnh giấc.

Anh đưa tay vuốt mồ hôi trên mặt. Chủ quán không còn ngồi trước mặt anh. Nhân viên nói, chủ quán đi chi nhánh chính, nhắn anh tuần sau nhớ đến, chủ quán có việc gặp. Anh gật gật đầu, chào ra về. Đứng giữa hẻm vắng, nhìn vào quán cháo, thấy mọi thứ dưới ánh nắng chiều bỗng dưng chông chênh, mờ mờ ảo ảo như sương. Anh lắc lắc đầu, tự nhủ, chắc chỉ đến thêm một lần nữa. Không phải vì sợ phong thủy của quán không hợp với anh. Chỉ vì, người không giống, còn đến làm gì.

Lần gặp cuối, chủ quán ngồi chờ anh, khóe môi thoáng nét cười cười. Anh nhận ra chủ quán mang mặt nạ. Mặt nạ da người. Chiếc mặt nạ lúc nào cũng cười.

Chủ quán thong thả nói, quán cháo này nhiều chi nhánh lắm, đây là phụ, chủ quán sẽ chuyển đến chi nhánh chính, làm quản lý, nghĩa là được lên chức. Cho nên, sau này anh đến đây cũng không gặp được, không cần đến. Huống chi, phong thủy của quán không hợp với anh, giảm thọ không phải chuyện nhỏ. Lần này, chủ quán có quà chia tay tặng anh. Là một món cháo. Gạo huyết rồng nấu với hạt sen đựng trong tô sứ đen vẽ hoa sen đỏ. Cháo vừa nấu, thơm nồng hương sen, bốc khói nghi ngút.

Anh nhìn tô cháo, khẽ cảm ơn, không động tay. Chủ quán cười cười, nhẹ nhàng nói, lần này anh sẽ không ngộ độc, đây là cháo tịnh tâm, tịnh tâm để nghĩ anh nên làm gì, sai lầm thì phải sửa đổi, bằng hành động, ngồi hối hận suôn cũng vô ích.

Anh không đáp, hai thái dương bắt đầu đau nhức, nhưng vẫn nghe được lời chủ quán nói, nàng ăn tô cháo rất bình thản, nhẹ nhõm như được giải thoát, lâu lắm mới có người chịu đến quán ăn cháo sớm như nàng, vì ăn cháo sớm nên không tiền trả. Nàng đi vội vàng, người quen chưa kịp gửi tiền, nàng giải thích với chủ quán như vậy. Nàng ăn cháo xong nhanh chóng rời quán, sợ trễ giờ, không kịp lên thuyền cùng đứa bé. Chuyến đi vừa dài vừa xa, nàng không yên tâm để con một mình. Mười mấy năm sống trong cô nhi viện, nàng hiểu không có cha mẹ khổ sở lắm.

Anh nghe đến đây, toàn thân lạnh buốt, muốn đứng dậy bỏ chạy, nhưng tay chân rệu rã, không sức lực. Chủ quán vẫn cười cười nói tiếp, nàng quyết định từ sớm, nhưng trong lòng vẫn còn ấm ức, nên mới chọn cách nhảy cầu, chứ nhiều biện pháp yên tĩnh vô cùng, không ai hay biết. Nàng gây ồn ào để anh nhớ thôi, họa may có người ghi lại hình ảnh, nhưng đúng là có người ghi thật, còn livestream. Nàng mừng thầm, biết  chắc anh sẽ thấy. Thời buổi công nghệ thông tin phát triển, tuyên truyền và lưu trữ mọi thứ đều dễ dàng, quá tiện lợi, quá tốt.

Chủ quán kể hết chuyện vẫn ngồi trước mặt anh, từ tốn uống trà. Anh run rẩy cầm muỗng khoáy cháo. Bây giờ, anh muốn ăn, tự nhiên rất muốn ăn, không đói, chỉ muốn ăn. Và anh ăn, một giọt cháo cũng không chừa. Tô cháo hết sạch, anh vẫn cầm muỗng vét. Quỷ đói cũng không tiếc như anh. Cháo tịnh tâm, không phải cháo lãng quên. Anh ăn xong, tâm không tịnh, càng không quên. Anh ôm đầu, tay chống lên bàn, gục xuống. Bàn tay gân xanh nổi lên, máu chạy rần rần. Cổ họng căng ra, có thứ gì muốn thoát phá. Khó thở. Đau. Rát. Anh ôm ngực, gào khóc.

Chủ quán nhìn anh thương hại, im lặng cười cười. Ngoài trời mưa xuống. Mưa rất lớn. Mấy đóa sen đỏ thẫm trong tranh nhẹ nhàng lay động, như đang hứng mưa.

Nhân viên trong quán kể rằng, trước khi đi, anh trả tiền tô cháo lần trước cho nàng, bước chân vững vàng, không có dấu hiệu ngộ độc. Anh nhắn mọi người giữ gìn sức khỏe, nói thêm, khi nào phong thủy của quán thích hợp với anh, anh sẽ trở lại. Bây giờ, anh còn nhiều chuyện phải làm, không có thời gian đến quán ngồi chơi, thời gian quan làm phiền mọi người, rất xin lỗi. Có người hỏi, anh định làm gì. Anh cười cười, trả nợ, trả nợ cho nàng, trả nợ cho anh, hy vọng các món nợ không tăng lãi suất.

 

Các bộ phim có nhân vật vua Lê Long Đĩnh

.

1. KHÁT VỌNG THĂNG LONG

Đạo diễn: Lưu Trọng Ninh
Biên kịch: Lưu Trọng Ninh và Charlie Nguyễn

Link Trailer, không tìm được phim trên mạng.

Nghệ sĩ Đình Toàn trong vai Lê Long Đĩnh. Theo đánh giá cá nhân thì đây là hình tượng kinh điển về Lê Long Đĩnh theo chiều hướng hơi “nữ vương”, có tâm cơ, tài trí và khát vọng.

2. HUYỀN SỬ THIÊN ĐÔ

Đạo diễn: Đặng Tất Bình
Kịch bản: Nguyễn Mạnh Tuấn

Link phim trên youtube

Nghệ sĩ Trung Dũng trong vai Lê Long Đĩnh. Đây cũng là một hình tượng kinh điển của Lê Long Đĩnh, theo hướng “đế vương”, nghiêm khắc, tàn nhẫn, độc đoán, nhưng tài trí, dũng mãnh và tham vọng.

Hình ảnh Lê Long Đĩnh của nghệ sĩ Trung Dũng, giống đến 70-80% Lê Long Đĩnh mà tôi tưởng tượng. Thần tượng diễn đúng là không thể chê được. Vì đây là hình tượng Lê Long Đĩnh mà tôi thích nhất nên bonus thêm cái ảnh Lê Long Đĩnh thời hiện đại.

15442119_376090552724077_3084177184400320672_n

3. VỀ ĐẤT THĂNG LONG

Đạo diễn: Trần Ngọc Phong, Đinh Thái Thụy, Lê Chí Bửu
Biên kịch: Phạm Thùy Nhân

Link phim trên youtube

Diễn viên  Lâm Minh Thắng vai Lê Long Đĩnh. Hình ảnh Lê Long Đĩnh nguyên bản của sử sách. Một vị vua tàn bạo, ham mê tửu sắc, quyền lực nhưng vô dụng, bất tài.

4. LÝ CÔNG UẨN – ĐƯỜNG TỚI THÀNH THĂNG LONG

Đạo diễn:  Cận Đức Mậu (người Trung Quốc)
Biên kịch: Trịnh Văn Sơn, Kha Chương Hòa (người Trung Quốc) chỉnh sửa

Diễn viên Mạnh Quân vai Lê Long Đĩnh. Phim không được chiếu, vì quá giống phim Trung Quốc, nên không biết hình tượng Lê Long Đĩnh được xây dựng như thế nào.

5. VỞ CẢI LƯƠNG VƯƠNG QUYỀN BẠO CHÚA

Đạo diễn: Hoàng Dũ
Soạn giả: Đào Việt Anh, Bạch Mai
Dàn dựng: Hữu Huệ

Link xem cải lương trên youtube

Nghệ sĩ Chí Linh đảm nhận vai Lê Long Đĩnh. Hình tượng Lê Long Đĩnh như trong sử sách, nhưng so với Lê Long Đĩnh trong Về Đất Thăng Long của Lâm Minh Thắng thì có hồn hơn hẳn.

Hình minh họa 2 vợ chồng nghệ sĩ Chí Linh và Vân Hà, không phải là hình ảnh trong Vương Quyền Bạo Chúa, nhưng thấy đẹp nên post.

.

.

.

Vua Lê Long Đĩnh và những “ẩn số” trong cuộc đời – Hoa Anh Đào

Nguồn:  Nghiên cứu Lịch Sử

Cách đây lâu lắm rồi, tôi rất ấn tượng với một tiết dạy giờ lịch sử. Trong đó, cô giáo của tôi kể về những tội ác của Lê Long Đĩnh, ông vua cuối cùng của nhà Tiền Lê. Những mẫu chuyện về những việc làm “tàn bạo” của Ông “đóng đinh” trong lòng tôi.

Theo như những gì thầy cô kể và những sách sử bấy lâu nay tôi đọc Lê  Long Đĩnh là vị vua tàn bạo nhất trong lịch sử Việt Nam. Một con người bất nhân, bất nghĩa, bạo ngược và hoang dâm vô độ. Như học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam sử lược nhận xét về vị vua này như sau: “Long Đĩnh là người bạo – ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa.

Khi đã giết anh rồi, lên làm vua thường cứ lấy sự giết người làm trò chơi: có khi những tù phạm phải hình, thì bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đốt sống; có khi bắt tù trèo lên cây rồi ở dưới sai người chặt gốc cho cây đổ; có khi bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông.

Làm những điều ác như thế thì lấy làm thích chí. Một hôm lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh – thoảng giả tảng nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu ra, trông thấy thế làm vui cười. Còn khi ra buổi chầu, có ai tấu sớ điều gì thì cho những thằng hề nói khôi – hài hay là nhại tiếng làm trò. Long Đĩnh làm vua được 2 năm đổi niên -hiệu là Cảnh – thụy (1008-1009). Sang năm sau là năm Kỷ – Dậu (1009) thì mất, làm vua được 4 năm, thọ 24 tuổi.

Vì lúc sống dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Ngọa-triều”.

Những sử liệu của học giả Trần Trọng Kim đưa ra chủ yếu dựa vào các sách sử do các nhà sử học đời sau viết. Và sau này, các nhà sử học Việt Nam hiện đại khi biên soạn sách giáo khoa lịch sử chủ yếu dựa vào đánh giá này của Trần Trọng Kim để dạy cho hàng chục thế hệ học sinh. Vậy nên cái tên Lê Long Đĩnh đã in dấu không chỉ riêng tôi mà là những con người dù ghét hay thích bộ môn lịch sử là ông vua tàn bạo nhất Việt Nam từ xưa đến nay.

Vậy sự thật lịch sử ra sao, nếu nhìn theo một chiều hướng khác bằng những sử liệu khách quan, công bằng hơn, đặt vua Lê Long Đĩnh vào bối cảnh lịch sử luc bấy giờ, chúng tôi xin mạn phép viết vài điều về vị vua này thông qua những câu hỏi nghi vấn:

*Thứ nhất: Liệu vua Lê Long Đĩnh có phải là người giết anh trai ruột của mình để cướp ngôi?

Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập ra nhà tiền Lê, Ông đánh bại nhà Tống xâm lược năm 981. Lê Đại Hành có tổng thể 11 người con trai trong đó có 1 người con nuôi, tuy nhiên Ông lại không lập thái tử cho một người con trai nào mà phong vương cho các con trai mình cai quản các vùng đất khác nhau và Ông lập đến 5 bà hoàng hậu. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà, nhường ngôi cho con thứ 3 là Lê Long Việt. Tuy nhiên, xảy ra cuộc chiến tranh giành ngôi báu giữa các con trai của Lê Đại Hành. Lê Long Việt trấn áp các hoàng tử khác, lên ngôi hoàng đế. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 3 ngày Ông bị giết hại. Lê Long Đĩnh lên thay anh, và lịch sử ập ờ ghi lại, chính Lê Long Đĩnh là người đã giết anh trai của mình để cướp ngôi. Đại Việt sử ký toàn thư viết như sau: “Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung Tông vì anh em cùng mẹ không nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông.”

Trong chuyện này có hai nghi vấn như sau:

– Thứ nhất, sự việc Đại Việt sử ký toàn thư chép lại từ “dã sử”. Dã sử có thể tin được nếu có căn cứ để đối chiếu hoặc nó hợp logic, nếu không nó chỉ có giá trị như một lời đồn.

– Thứ hai, đã là dã sử mà còn nói “Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông”. Quy cho người khác tội chủ mưu giết người thì phải có chứng cứ. Ai làm chứng và tài liệu nào chứng minh việc Lê Long Đĩnh “sai bọn trộm cướp”? Chắc chắn là không có ai cả và không có bất cứ tài liệu nào. Một lời đồn đã là không có cơ sở, một lời đồn nói về một việc không thể có chứng cứ càng không có cơ sở.

Vả lại, nếu Lê Long Đĩnh giết anh trai của mình nhưng khi thấy Lý Công Uẩn đang ôm xác vua mà rên khóc đau đớn, vua cho đây là con người trung nghĩa, thăng chức cho Lý Công Uẩn. Giết vua giết anh là bất trung bất nghĩa, một con người như vậy, khó mà trọng dụng một con người trung nghĩa?

Như vậy sự việc Lê Long Đĩnh có thực sự giết anh cướp ngôi hay không còn là một “ẩn số” lịch sử, chưa có tài liệu nào thỏa đáng để giải thích vì vậy quy kết cho vị vua này cái tội tày đình đó có phải là quá vội vàng hay không?

* Thứ hai, Ông thực sự là một người tàn bạo?

Sử sách kể lại những việc làm tàn ác của Lê Long Đĩnh, như Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua tính thích giết người, phàm người bị hành hình hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt để cho lửa cháy chết, hoặc sai tên kép hát người Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn, dao cùn xẻo từng mảnh để cho không được chết chóng… Đi đánh dẹp bắt được thù thì giải đến bờ sông, khi nước triều rút, sai người làm lao dưới nước, dồn cả vào trong ấy, đến khi nước triều lên thì ngập nước mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, người rơi xuống chết…Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay vua cầm dao chọc tiết trước rồi mới đưa vào nhà bếp sau. Từng róc mía ở trên đầu sư Quách Ngang, giả lỡ tay lưỡi dao trượt xuống đầu nhà sư cho chảy máu, rồi cả cười. Hoặc nhân yến tiệc giết mèo cho các vương ăn, ăn xong lấy đầu mèo giơ lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích. Mỗi khi ra chầu, tất sai bọn khôi hài hầu hai bên, vua có nói câu gì thì người nọ người kia nhao nhao pha trò để cười, để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính. Lại lấy con thạch sùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn”.

Trên đây, là lời kể của sử sách về những việc làm tàn bạo, thú tính của vua Lê Long Đĩnh. Bên cạnh đó sử sách đã ghi lại 2 công lao lớn của vị vua này như sau:

– Thứ nhất, Ông là người đầu tiên cho rước bộ kinh Phật Đại Tạng bằng chữ Hán về Việt Nam. Đây là một bộ sách vĩ đại được rất nhiều thế hệ các cao tăng Trung Hoa vượt qua biết bao gian truân khổ ải dày công thu thập, sưu tầm và dịch thuật suốt 1.000 năm, từ thế kỷ thứ nhất đến cuối thế kỷ thứ 10 (đời Tống Thái Tổ) mới in thành sách lần đầu tiên gồm 5.000 quyển (riêng việc khắc bản phải mất 12 năm). Bộ sách đó không chỉ là tổng vựng các kinh sách Phật giáo mà còn hàm chứa rất nhiều lĩnh vực triết học, lịch sử, văn học, nghệ thuật, thiên văn, toán học, y dược…

– Thứ 2, Lê Long Đĩnh là ông vua biết chỉnh đốn triều chính. Một năm sau khi lên ngôi ông đã “Sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống”,ngoài ra Ông lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu, nhưng vua Tống chỉ cho mua bán ở chợ trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng thôi”. Thế kỷ thứ 11, không chỉ nước ta mà hầu khắp thế giới, kinh tế đều tự cấp tự túc. Phải có một “tư duy kinh tế” vượt xa thời đại mới biết “xin đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu”, tức là sâu trong nội địa Trung Quốc, việc đó giống như việc đặt Văn phòng đại diện thương mại ở nước ngoài bây giờ.

Qua những việc làm trên chúng ta tự đặt ra những câu hỏi sau:

Liệu một ông vua bạo ngược, róc mía trên đầu nhà sư như vậy lại có tư duy sai chính em ruột mình sang xin bộ kinh Đại Tạng về để phát triển phật giáo trong nước hay không? Liệu Ông là người bạo ngược hay là người đóng góp công lớn về sự phát triển rực rỡ của phật giáo trong giai đoạn về sau? Liệu một người sùng mộ đạo phật như vậy có tàn bạo, vô nhân tính như sử sách đã miêu tả về vị vua này?

Liệu một ông vua suốt ngày ham chơi, không lo việc triều chính, lại có những chính sách nhằm ổn định thể chế chính trị, lại có tư duy kinh tế để phát triển đất nước. Ông vua đó thật sự bất tài, bất nhân, bất nghĩa như sử sách đã ghi lại và dạy cho con cháu ngày nay?

*Thứ 3, Lê Long Đĩnh không thể ngồi do hoang dâm quá độ?

Ngoài việc, miêu tả những tội ác của Lê Long Đĩnh, các sử thần đời sau còn cho rằng Ông là một người hoang dâm quá độ, dẫn tới không thể ngồi được (bệnh trĩ), và khi thiết triều phải nằm trên ghế nên sử gọi ông là Lê Ngọa Triều.

Y học ngày nay chưa có một chứng cứ nào cho thấy việc hoang dâm có thể gây ra bệnh trĩ. Vả lại sử sách ghi lại Ông đã 6 lần cưỡi ngựa đánh giặc mà lần cuối cùng cách 2 tháng trước khi Ông mất. Vậy một ông vua không thể ngồi có thể cỡi ngựa đánh giặc được sao?

Một ông vua hùng dũng, chinh phạt bắc nam, cơ thể cường tráng lại có thể là một con người trụy lạc, ham dâm?

Điều này, cần có một lời giải thích thật thỏa đáng!

*Thứ 4, vua Lê Long Đĩnh chết như thế nào?

Cái chết của Ông hầu như không có một cuốn sử sách nào viết lại, Ông ở ngôi được 4 năm, năm 24 tuổi thì băng hà. Các sử gia nhà Lý cho Ông mắc bệnh quá nặng, hoang dâm quá độ dẫn đến suy nhược mà băng. Như phía trên, chúng tôi đã chỉ rõ, Ông không thể mất bằng những lí do này được. Vậy vì sao Ông mất? Đây lại là một bí ẩn lịch sử nữa chưa có lời giải thích thỏa đáng. Duy nhất cuốn Đại Việt sử ký tục biên có những dòng rất đáng chú ý như sau: “Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương, nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi dấu kín việc đó nên sử không được chép”.

Vậy có phải đúng như cuốn Đại Việt sử ký tục biên ghi chép về cái chết của Ông?

Đây là một vấn đề cần tìm hiểu kỹ lưỡng trước khi phán xét.

Nhưng chúng ta có cơ sở để tin rằng như vậy.

Đặt lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, Khi vua Lê Long Đĩnh mất, các triều thần thấy con vua còn quá nhỏ chưa thể để quản lí đất nước nên tôn phò Lý Công Uẩn – người nắm trong tay binh quyền – lên ngôi hoàng đế dưới sự giúp sức rất lớn từ các nhà sư trong triều đình, đặc biệt là sư Vạn Hạnh.

Điều này, làm cho chúng tôi hiện lên một nghi vấn rằng, cứ cho rằng con vua còn quá nhỏ nhưng bấy giờ các anh em của Lý Long Đĩnh vẫn còn khá nhiều, là những người có đủ tư cách để kế nghiệp ngai vàng họ Lê vậy tại sao lại phải chọn một người họ Lý, nắm trong tay binh quyền để nối ngôi?

Và cái chết của những anh em nhà họ Lê khi họ Lý thành lập cũng không được nhắc đến. Đây có lẽ là một ẩn số lịch sử không có lời giải đáp.

Vả lại, ngay sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã nhanh chóng dời đô khỏi Hoa Lư nơi họ Lê có thế lực mạnh mà chuyển về Đại La (Thăng Long) gần quê hương của Lý Thái Tổ (Bắc Ninh). Phải chăng ngoài vị trí thiên thời – địa lợi – nhân hòa của Đại La ra còn có những nguyên nhân khác?

Vậy, Lê Long Đĩnh chết như thế nào? Đây vẫn còn là một bí ẩn!

Thay lời kết luận:

Như vậy, bị đóng đinh trong tâm trí người Việt là vị vua tàn bạo nhất chẳng khác gì Kiệt, Trụ thời xưa, cuộc đời của Ông – Lê Long Đĩnh là những bí ẩn chưa có lời giải thích. Phải chăng Ông là nạn nhân của những tính toán chính trị?. Một triều đại muốn có tính chính danh trước nhân dân phải không ngừng hạ bệ, xỉ nhục nhân cách của ông vua cuối cùng của triều đại trước, vì vậy, phải chăng các sử thần thời Lý đã ra sức “dựng lên” những câu chuyện về Ông?

Qua việc tìm hiểu về Ông, làm cho chúng tôi sáng tỏ được rất nhiều điều. Trước khi đánh giá về một nhân vật lịch sử nào đó, ta cần tìm hiểu thông tin nhiều chiều từ những nguồn tư liệu khác nhau, từ đó chúng ta mới đưa ra nhận định của mình. Chứ không phải cứ tiếp thu nguồn sử liệu một chiều một cách mù quáng. Ông có lẽ đã chứa đựng nỗi oan này trong suốt hơn 1000 năm qua. Cần có những hội thảo lịch sử, nghiên cứu về Ông nhiều hơn, tỉ mỉ hơn để trả lại cho Ông danh tiếng, nhân phẩm và đặc biệt là sự tôn trọng. Điều này, cần đến những nhà sử học uyên bác, có đủ trình độ để lý giải phân tích, đưa ra những nhận định đúng đắn. Không chỉ riêng Ông – Lê Long Đĩnh mà còn nhiều nhân vật lịch sử khác nữa.

Lời cuối, một chút an ủi dành cho Ông có lẽ là vì chính nhân dân là người đánh giá lịch sử một cách công bằng nhất, Ông vẫn được nhân dân thờ tự trong nhà thờ họ Lê, hưởng hương khói đời đời. Dân tộc ta thờ tự để đền đáp những việc làm của vị vua này đã làm