Ấn tượng đầu tiên về Văn hóa Đại chúng

.

“Tham gia những hội chợ phù hoa thì quả là phiền, nhưng chúng ta sẽ có cách mang tri thức tinh hoa đến cho đại chúng”  –  PGS.TS  Phan Thị Thu Hiền

“Em nghĩ thử xem có thứ gì trên đời là không phù hoa.” – Không ghi kịp là ai nói

.

Câu đầu tiên phải khẳng định là: “Môn này hay lắm, hay lắm, hay lắm.”

Những môn học trước đây đều là học về văn hóa truyền thống, những điều xưa cũ đã cố định hoặc mất đi. Còn Văn hóa Đại chúng là học về hiện tại đang thay đổi chóng mặt từng giờ. Đây có thể nói là một môn học khiến cho bạn mở rộng tầm mắt.

Văn hóa Đại chúng, tiếng Anh là Popular Culture, được nói nhiều trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về đề tài này rất hạn chế và ít được quan tâm. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, muốn giữ gìn và phát triển văn hóa của một đất nước, không thể không quan tâm đến Văn hóa Đại chúng.

Văn hóa Đại chúng, nằm giữa văn hóa dân gian và văn hóa tinh hoa, là phần văn hóa mà chúng ta sử dụng nhiều nhất, sử dụng hàng ngày, hàng giờ. Văn hóa Đại chúng mặc dù được xem là những sản phẩm giải trí được nhiều người sử dụng, sản xuất hàng loạt…  nhưng Văn hóa Đại chúng không có nghĩa là văn hóa thấp kém, ranh giới giữa Đại chúng và Tinh hoa đôi khi rất mong manh.

Học văn hóa đại chúng để hiểu sự đa dạng và khác biệt, cũng như hiểu cách tôn trọng sự đa dạng và khác biệt đó. Cho nên, chẳng có gì sai khi sở thích của người ta khác bạn, cũng chẳng có gì đúng khi bạn bắt kẻ khác đi theo sở thích của mình. Tôn trọng nhau, không ảnh hưởng đến nhau, để sống bình yên hơn.

Nói một chút không liên quan chuyện học hành, đó là việc những cuốn sách best-seller của Việt Nam. Nhìn theo góc độ văn hóa đại chúng thì những quyển sách này là một thành công, vì có thể viết sách mà kiếm được nhiều tiền cũng là một loại tài năng, khiến cho kẻ khác bỏ tiền cho sở thích của bạn cũng là một loại tài năng.  Nhưng nếu nhìn dưới góc độ văn hóa tinh hoa thì là chuyện khác.

[ Điền dã ] Phần 3 – Có thờ có thiêng, có kiêng có lành

.

Bạn có tin vào những chuyện tâm linh không?  Không rõ ràng lắm, nhưng người xưa nói “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” chắc không sai.

Bạn đến Ba Chúc với tâm trạng tử sĩ, nghĩa là hoàn cảnh bắt buộc không thể khác, nên có sợ run người cũng phải chui vô chùa Tam Bửu ngủ mấy đêm.

Bạn có đốt nhang không? Chưa đốt, đến hết chuyến đi cũng chưa đốt cây nào, dù đi từ chùa miếu đền điện này, đến chùa miếu đền điện kia, từ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đến Phật giáo Nam Tông, Bắc Tông. Thậm chí, bước chân vô Nhà mồ trái bần, chắc bản thiết kế lấy ý tưởng hoa sen nhưng bạn thấy giống trái bần, cũng không đốt cây nhang nào. Người ta đốt nhang nhiều quá rồi mà, Lớp trưởng cũng thay mặt mọi người đốt nhang rồi mà.

Bạn cũng phải thừa nhận là bạn gan thiệt. Nhưng mà bạn có quỳ lạy cúng dường à nha.

Lúc đặt chân vào Nhà mồ trái bần, nhìn mấy tủ kiếng chất đầy xương người, bạn không có cảm giác sợ hãi hay rờn rợn, chỉ có cảm giác đau thương vô hạn, người xung quanh rất đông, nhưng bạn lại có cảm giác vắng vẻ và hoang lạnh kinh khủng. Giữa Nhà mồ là chiếc bàn nhỏ đặt bát hương, bánh trái của những ai đến viếng, còn có người thổi sáo ngồi ở một góc cửa vào.

Trong không gian giữa những tủ kiếng chất đầy xương người bị thảm sát chết oan, vang lên tiếng sáo du dương, cùng với nhang khói lượn lờ mờ nhạt. Chỉ có thật sự đứng ở nơi đó mới cảm giác đầy được những nỗi niềm dâng lên trong lòng, chứ dùng từ ngữ không thể nào tả nổi.

Đột nhiên, nhỏ bạn chung nhóm kéo 3 đứa còn lại ra ngoài nắng đứng, đội khăn rằn che nắng. Nhỏ nói: “Khi nào về cho tui xin hình nha, tui chụp bằng điện thoại nhưng xóa hết rồi, tự nhiên ớn lạnh nổi da gà.”

Thật sự không phải chỉ mình nhỏ nổi da gà, bạn cũng nổi da gà 2 lần khi đi ngang Miếu Cửu Thiên ở núi Dài. Ngày hôm sau chạy xe máy ngang đó thì té, cách Miếu chừng 500m, ngay đoạn đường được vinh hạnh gắn bảng “Đoạn đường thường xảy ra tai nạn giao thông” dưới nghĩa địa xã An Lương. Mồ chôn san sát nhau trên sườn núi trồng đầy hoa huệ cam đang nở rộ. Đẹp ma quái.

Sau này về kể cho mẹ bạn nghe, mẹ nói: “Sao con không niệm Phật?” Bạn có niệm mà, lúc nổi da gà, nhưng hôm sau chạy ngang thì quên mất.

Người dân kể ngày xưa Miếu Cửu Thiên quay mặt ra đường, người nào chạy xe lạng quạng, cười giỡn, mặc quần áo sặc sỡ… chạy ngang là bị Bà níu giò gây tai nạn, nhẹ thì trầy xước, nặng thì gãy cổ chết. Sau đó, dân trong vùng cúng xin Bà cho phép quay mặt Miếu nhìn vào núi, thì tai nạn mới giảm đi.

Bạn chậc lưỡi,  bạn chắc không bị Bà níu giò, mà bị cô hồn nơi đó níu giò. Nhưng mà xe ôm của mấy bác nơi đó cũng ác thiệt, thắng không ăn, hạ ga không xuống, cho nên về đến nhà chân cẳng vẫn còn dấu tích tai nạn.

Ba Chúc thuộc Thất Sơn, là vùng núi thiêng, núi thiêng mà lại nhiều người chết trong thảm sát, tức là chết oan thì càng thiêng hơn chứ sao.

 Nghe dân nói, hồi trước âm binh vùng này, sau vụ thảm sát nhiều dữ lắm. Buổi tối, 6h là nhà nào cũng đóng cửa cài then, không dám ra đường, đặc biệt là con nít, người già và phụ nữ mang thai, âm thịnh dương suy nên dễ mắc đủ thứ bệnh. Bây giờ, dân ngày càng đông, dương thịnh thì âm suy nên dễ sống hơn.

Ba Chúc giờ là thị trấn, 9h tối, tụi bạn vẫn còn đi vòng vòng ngoài đường, đèn đuốc sáng trưng.

.IMG_5627

Lan man về Lý luận Văn hóa học

.

Chuyện ấn tượng

Cách đây 9 năm, bạn bước chân vào giảng đường đại học, học môn đầu tiên với thầy Trưởng khoa mang tên Đại cương hay Nhập môn Văn hóa học chi đó, không nhớ rõ, nhưng đại khái cũng mang tính lý luận thôi. Điều bạn nhớ nhất khi học với thầy không phải mấy thứ lý thuyết cao siêu mà là 2 vấn đề:

– Loạn luân: không nhớ chính xác từng câu từng chữ thầy đã nói, chỉ nhớ đại khái là nếu người ta yêu nhau thật lòng, không phải vì ham mê nhục dục, cũng không sinh ra thế hệ sau thì có được chấp nhận hay không?

– Cắm sừng:  văn hóa học có thể dự đoán tương lai, khi phân tích toàn diện các yếu tố, cho nên nếu bạn bị người yêu phản bội cũng có thời gian chuẩn bị tinh thần, không bị sốc cấp tính mà lăn đùng ra chết  =))))))))))

Còn vấn đề thứ 3 mà bạn ấn tượng thì mới gần đây, nên vẫn còn nhớ rõ từng câu từng chữ, thật ra là vì nó ngắn quá mà.

“Văn hóa là không hy sinh bất kỳ ai.”

Điều này nói thì dễ, làm thì khó, vì  “thế gian nan đắc song toàn pháp, bất phụ Như Lai bất phụ khanh”. Cho nên, chỉ có thể tìm kiếm một lựa chọn tối ưu nhất, hy sinh ít nhất, cũng như con người không bao giờ có thể đạt đến chân lý hoàn mỹ, chỉ có thể tiệm cận chân lý mà thôi, nếu đạt đến chân lý thì con người đã không phải là con người nữa.

Nhưng chỉ cần có suy nghĩ  “văn hóa là không hy sinh bất kỳ ai” cũng đã tốt lắm rồi. Bởi vì khi mang trong lòng suy nghĩ này, thì con người mới có thể hành động như thế này.

Chuyện đi thi

Nghe giang hồ đồn đại là môn Lý luận Văn hóa học bậc sau đại học thi vấn đáp khó lắm, khó lắm, khó lắm (chuyện quan trọng lặp lại 3 lần). Bằng chứng là có lớp chỉ đậu 1 người, còn nhiêu rớt hết (lớp nào có tính cộng đồng dữ). Còn nhiều lớp khác rớt phân nửa là chuyện thường, thi lại là chuyện thường.

Thế là 7 con người còn lại sau một thời gian rơi rụng tả tơi đã chuẩn bị tinh thần rớt hết. Thi cũng rớt, không thi cũng rớt, cho nên rớt cũng phải rớt cho đẹp. Vì vậy chiến lược của lớp hôm đó là ăn mặc trang điểm tóc tai cho thật đẹp để đi thi rớt.

Bạn tiến vào phòng thi… Nói chung cái phần thi của bạn cũng không hấp dẫn bằng mấy bạn đằng sau. Vì bạn bị tụi nó đẩy lên giàn hỏa hiến tế đầu tiên, nên thầy không thẳng tay chém giết. Thầy chỉ xoay bạn vụ biểu tượng với giá trị đến lúc bạn tự đâm đầu vô tường, lăn đùng ra chết, rồi thầy tha mạng cho bạn.

Bạn thứ 2 cũng không hấp dẫn, nhưng bạn thứ 3 tiến vào liền bị thầy xoay về địa lý, vùng nào gốc nông nghiệp, gốc du mục, hay trung gian trọng thế tục, trung gian trọng tâm linh, ứng với địa lý hành chính như thế nào?  Mà con nhỏ mù địa lý mới thảm.

Thầy:  Arab thuộc vùng nào?

Nhỏ:  Dạ à… vùng Đông Bắc Á.

Thầy:  Chắc em phải thi lại quá.

Nhỏ: Khoan khoan thầy… câu này em không biết nhưng mà câu khác em biết, vì địa lý em không rành lắm.

Mọi người  *che mặt không dám nhìn thẳng*: thím có biết thuyết cấu trúc – loại hình của thầy xây dựng trên nền tảng địa – văn hóa hay không, thím mù địa lý thì làm sao thím hiểu.

Nhưng may mắn là nhỏ cũng qua. Còn một phần thi hấp dẫn nữa, của một em không học gì hết, không học gì hết, không học gì hết (chuyện quan trọng lặp lại 3 lần)  nhưng vẫn khăn gói đi thi, còn ăn mặt trang điểm đẹp gấp mấy lần bình thường. Cái này gọi là mỹ nhân kế, cho nên em được tặng một câu:

“Đẹp như vầy mà thi rớt là ngu dữ lắmmmm.”

May mắn là em không thi rớt, vừa đủ 5 điểm qua. Nhưng em vô phòng thi toàn cười, vuốt tóc, cười, vuốt tóc, cười, vuốt tóc… Đến mức trả lời được một câu thôi thì cô giám thị ngồi kế bên thầy cũng thở phào nhẹ nhõm giùm.

Chắc tại thầy vừa họp báo giới thiệu sách ngày hôm trước nên tâm trạng còn rất lâng lâng vui sướng.

.

P/S:  bạn qua môn rồi nha, trung bình 8.0 nha, cao nhất lớp nha, không cần tốn tiền học lại nha, mừng quá, mừng quá, mừng quá… bạn nằm mơ cũng không thấy mình 8.0 môn Lý luận  Văn hóa học thiệt đó nha.

[ Sai lầm ] Chương 17 – Sự thật kinh hoàng

.

Tối thứ hai, cô uống viên thuốc cuối cùng mà Hữu Triều đưa cho. Anh bảo uống xong phải đến Y quán kiểm tra lại sức khỏe. Vậy nên cô đến khám vào thứ ba vì buổi sáng không có giờ học, chiều vẫn là Tư tưởng chính trị nhưng thầy Tần không còn dạy thay, chẳng biết học với thầy Trưởng khoa thế nào, có ngủ gật không? Nhưng việc cô cùng cả lớp lo lắng đã không xảy ra. Thầy Tần sẽ dạy cả lớp đến hết môn, không hiểu vì sao thay đổi giảng viên, nhưng ai cũng vui mừng phấn khởi.

Cuối buổi học, cô được thầy ưu ái gọi lại yêu cầu rất nhẹ nhàng.

– Em có thể đưa thầy về nhà được không? Xe của thầy tạm thời đang bảo trì.

Cô rất nghi ngờ lý do này. Thầy không có xe vẫn đi taxi, xe buýt, tàu điện, thậm chí nhờ đồng nghiệp cũng được, không cần hạ mình nhờ vả sinh viên, lại là sinh viên nữ, rất dễ để người ta dòm ngó xầm xì, đặc biệt trong tình hình “gạ tình đổi điểm” ở các trường đại học đang bị đồn đại ẫm ĩ hiện giờ. Nhưng cô không thể từ chối. Thầy còn dạy cô đến hết môn, huống chi với điều kiện của thầy, sinh viên nam nữ không chủ động thì thôi, chứ thầy chẳng cần. Cô càng không thể đắc tội thượng đế nắm quyền sinh sát sự qua môn của mình. Cô vẫn còn yêu đời lắm.

– Em đưa thầy đến Q2.

Thầy ngồi ghế phụ, rất bình thản mỉm cười nói địa chỉ. Cô nhìn thầy một cái rất nhanh mới khởi động xe.

Có cơ hội tiếp cận thầy cô phải nhiệt tình thể hiện, nhưng cô thật sự không biết nói gì, tự nhiên ngôn ngữ chạy trốn hết. Có lẽ vì chữ Q2 làm cô hoang mang. Nơi đó là đặc khu biệt thự, cả nước chỉ có hai địa điểm, một ở Đông Kinh và một ở Tây Đô. Đặc khu chỉ dành cho lãnh đạo cấp cao và gia đình cư ngụ. Cô tự hỏi thầy thuộc dòng họ quyền lực nào? Hoặc đang giữ chức vụ gì?  Cấp thành phố hay trung ương? Nhưng trẻ như vậy chắc chỉ là người nhà của mấy bác cầm cân nảy mực. Cũng có thể là cô nghĩ nhiều, thầy chỉ đến Q2 tìm người quen, hoặc nhà gần đó.

Xe chạy đến nơi, thầy bảo cô dừng ở trạm gác. Thầy hạ kính xe, xuất trình giấy tờ, cũng bảo cô đưa chứng minh thư. Cô chần chừ, không nghĩ mình cũng phải vào, nhưng cuối cùng vẫn nhượng bộ, vì thầy rất kiên nhẫn chờ cô. Hai người nhanh chóng được cho qua. Trạm gác tiếp theo cũng vậy. Xe đến vùng trung tâm đặc khu. Vùng Đỏ. Chỉ dành cho lãnh đạo cao nhất của thành phố và trung ương.

Cô thấy tim mình đập hơi nhanh. Những nhân vật và gia đình quyền lực nhất chính trường sống trong thành phố này, cô đều được gia đình cho biết ít nhiều, không gặp mặt cũng nghe tên nhìn hình, để tránh vô tình đắc tội, tự tìm đường chết, nhưng chưa từng nghe qua về thầy. Hơn nữa, khách lạ muốn vào phải báo rõ nơi đến. Cảnh vệ sẽ xác thực thông tin, nếu đúng mới được vào. Họ phải đi bằng xe của đặc khu, đưa thẳng đến nơi hẹn, không được tự ý chạy lung tung. Việc này chứng minh thầy Tần là người sống ở đây.

Cho xe dừng lại trước biệt thự thầy nói, cô hiểu rằng việc hôm nay sẽ không đơn giản kết thúc thế này, càng khẳng định khi nghe lời mời.

– Em đến đây rồi thì vào nhà uống chén trà đi.

Thầy nhìn cô cười rất hòa nhã, nhưng ánh mắt chính là mệnh lệnh, không cho phép phản đối. Loại khí thế này, cô đã từng thấy xuất hiện ở Nguyễn Khang và Âu Dương. Chính là loại bá khí đế vương, ngạo thị thiên hạ. Chỉ khác nhau ở chỗ, hắn uy nghiêm làm người ta kính sợ phục tùng, y cao quý khiến người ta ngưỡng vọng sùng bái, còn thầy ôn hòa làm người ta tôn kính tin tưởng. Ba người bọn họ đều có thể thao túng lòng người theo những cách khác nhau, nhưng đều khiến kẻ khác cam tâm tình nguyện, sẵn sàng  tìm chết.

Cô không muốn tìm chết. Nhưng “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Huống chi, không muốn chết cũng phải chết.

– Em có thể gọi điện thoại về nhà cho mọi người yên tâm, cũng cần thông báo với vệ sĩ đang chờ ngoài kia một chút.

Thầy khẽ nhắc nhở, buồn cười nhìn vẻ mặt lo lắng và thái độ bất an nhưng vẫn cố tỏ ra bình tĩnh của cô.

Cô im lặng, suy nghĩ một chút liền lấy điện thoại gọi cho Viễn An.

– Anh Ba. Em đang ở biệt thự số 7 thuộc vùng Đỏ của Q2. Em đưa thầy Tần về nhà. Thầy dạy em môn Tư tưởng chính trị. Thầy có chuyện muốn nói với em, nên em sẽ về trễ một chút, không ăn cơm với cả nhà được.

– Biệt thự số 7 thuộc vùng Đỏ của Q2 ?

Viễn An lặp lại, giọng nói ngạc nhiên lẫn không tin. Cô nén tiếng thở dài, khẳng định lần nữa. Anh im lặng mấy giây mới nói.

– Anh sẽ nói với cả nhà. Em cẩn thận một chút. Có gì nhớ gọi về nhà ngay.

Sau đó cô gọi cho vệ sĩ, bảo anh ta đừng lo, cứ đợi bên ngoài Q2.

Cô biết chắc chắn nếu mình  gặp chuyện, họ cũng không giúp được, thậm chí cô có chết tại đây, họ chưa hẳn thấy được xác, càng không có quyền đặt chân đến hiện trường. Nhà nước pháp quyền cũng phải xem là quyền của ai, thời gian nào, địa điểm đâu? Nhưng mặc kệ những điều này, cô vẫn gọi về nhà mới yên lòng mang tâm tử sĩ đi theo thầy.

Thầy Tần thấy cô thật sự gọi về nhà liền bật cười, giống như việc đùa giỡn cô rất thú vị phấn khích. Cô chắc thầy có họ hàng với Âu Dương. Thần kinh đều có vấn đề. Người bình thường không hiểu nổi.

Người làm mở cổng, cô cho xe chạy vào, dừng dưới giàn hoa giấy ngay sát tường. Thầy xuống xe, cô đi theo, băng qua khoảng sân rộng thoang thoảng hương thiên lý, cây cối um tùm cao lớn, hoa cỏ chen quanh những hòn đá to hơn thân người, thấp thoáng có tiếng suối róc rách. Tất cả đều được thiết kế ngăn nắp hài hòa, nổi bật sự đặc sắc của kiến trúc phương Đông. Bóng chiều tàn úa càng làm khung cảnh thêm thâm nghiêm cổ kính.

Cô nhìn ngôi nhà rường năm gian hai chái, mái ngói cong cong phủ màu rêu trước mắt, cảm thấy quen quen nhưng không nhớ được từng gặp ở đâu. Chỉ khi đứng dưới hàng hiên, nhìn bàn thờ giữa nhà cùng ảnh người quá cố, cô mới giật mình hoảng hốt. Ngôi nhà này là một bản sao dựa theo nhà thờ tổ của Hồ lãnh tụ ở làng Bạch Hạc, huyện Tao Đàn, tỉnh Trung An. Thiền Quyên đã được tham quan nhà thờ gốc trong một chuyến đi thực tế với cả lớp vào năm hai.

Liên kết mọi chuyện, cô đã đoán được phần nào thân thế của thầy Tần, chỉ không hiểu vì sao thầy muốn gặp mình.

– Cuối cùng công chúa đi lạc cũng về nhà rồi.

Chưa hoàn hồn, cô liền nghe giọng nói đùa giỡn quen thuộc, ngẩng mặt lên thấy Âu Dương đang nhìn cô cười cười.

Cô đứng ở ngưỡng cửa, tiến thoái lưỡng nan. Cô không muốn suy nghĩ theo hướng đen tối nhưng tình cảnh có vẻ nguy hiểm. Cô thật muốn co chân bỏ chạy, nhưng biết chắc vô vọng. Đừng nói cảnh vệ đầy xung quanh, cho dù không có, cô cũng chỉ thoát được khi mọc cánh hay độn thổ. Nhưng cô lo nghĩ lung tung, nên không chú ý câu nói sâu xa của Âu Dương.

– Đừng đứng trước cửa nhà ngẩn người. Qua bên kia ngồi đi. Chúng ta có rất nhiều chuyện cần tâm sự với nhau.

Y bước ra sau lưng cô, hai tay đặt lên hai vai cô, đẩy về phía trước.

Cô im lặng, không phản ứng. Tâm trí cô vẫn đang đặt tại hai chữ “tâm sự” được cường điệu của y. Cô chắc cảm giác của Alice khi lạc vào xứ thần tiên cũng giống mình lúc này.

Ba người ngồi xuống bộ salon gỗ lót nệm. Người làm mang trà bánh đặt trên bàn, mỉm cười thân thiện lại lễ phép mời cô. Bánh trái phong phú đẹp mắt, nhưng cô không có một chút tâm trạng muốn ăn, mặc dù bụng trống rỗng, vì giờ học Tư tưởng lúc chiều tiêu tốn rất nhiều năng lượng.

Âu Dương thấy vậy, cầm một đĩa bánh mặn đặt vào tay cô, ép buộc nói:

– Ăn đi, chuẩn bị tinh thần và sức khỏe cho tốt. Tôi nghĩ em càng không muốn ăn sau khi nghe hết mọi chuyện.

Bữa ăn cuối cùng dành cho tử tội. Cô nghĩ thầm. Ăn cũng chết không ăn cũng chết, no bụng trước. Nhưng ngồi ăn trước mặt hai người đàn ông có ngoại hình đẳng cấp hoa vương, lại lắm tài nhiều tiền đủ quyền, cô có cảm giác cực kỳ vi diệu. May mắn hai người họ cũng không nhìn cô với ánh mắt đặc biệt khác lạ hay hứng thú dạt dào, nếu không cô chết chắc.

Sau khi cô uống hết ly trà sữa nóng, Âu Dương mỉm cười nói, thái độ dạy dỗ trẻ con:

– Sau này đến nhà người lạ đừng tự nhiên ăn uống như vậy có biết không?

Cô rất muốn đập mấy dĩa bánh còn lại trên bàn vào mặt y. Trong mắt y cô là con nít ba tuổi sao? Cô cũng không muốn rơi vào hoàn cảnh này, còn bị trêu chọc không ngừng.

Thầy Tần lắc đầu, cười cười khuyên ngăn Âu Dương.

– Được rồi, được rồi. Cậu còn trêu chọc Tuệ San thêm nữa, con cũng không thể đảm bảo an toàn cho cậu. Chúng ta vào vấn đề chính thôi.

– Tuệ San?

Cô nhíu mày lặp lại. Thầy cười giải thích.

– Tên thật của em là Dương Tuệ San. Em không phải con gái của Dương Phong Quốc và Lê Úy Nhiên. Họ chưa bao giờ sinh con gái. Lê Úy Nhiên chỉ mang thai hai lần, sinh hai người con trai là Dương Vĩnh Tường và Dương Viễn An. Mẹ ruột của em được ghi tên trong giấy khai sinh là Dương Bảo Xuyến, em gái ruột của Dương Phong Quốc, nhưng thực chất hai người không có quan hệ huyết thống. Em là con riêng của Dương Phong Quốc và Dương Bảo Xuyến.

– Vậy Dương Bảo Xuyến là ai?

– Dương Bảo Xuyến tên thật là Lâm Thể Phượng. Là em gái của Lâm Hùng, cũng là dì ruột của Lâm Phượng Nghi. Có thể nói em với Phượng Nghi là chị em họ bà con cô cậu ruột. Nghĩa là trong người em đang chảy dòng máu của một trong những ông trùm xã hội đen khét tiếng nhất thành phố Tây Đô. Và những chuyện này tất cả mọi người bên cạnh em đều biết, nhưng đã giấu em.

Cô im lặng, không bình luận. Đây là thân thế ly kỳ của Thiền Quyên, không phải cô. Nhưng hiện giờ cô chính là nàng, phải hỏi rõ ràng để tránh phiền phức.

– Làm sao em có thể tin đây là sự thật? Hơn nữa, vì sao lại cho em biết chuyện này? Hai người có mục đích gì?

– Em không cảm thấy cái tên Dương Tuệ San rất quen thuộc sao?

– Ý thầy là sao?

Cô xiết chặt tay vịn ghế dựa, trái tim đập dồn dập vẫn cố gắng giữ bình tĩnh, nhìn thẳng vào mắt thầy. Cô cảm thấy câu hỏi này không dành cho nàng, mà là cho cô, chính cô.

– Trước khi giải đáp câu hỏi của em. Tôi sẽ kể cho em nghe một chuyện cũ.

Lần này Âu Dương lên tiếng, nụ cười vẫn thản nhiên nhưng thái độ trở nên nghiêm túc. Thanh âm của y rất thong thả.

Chuyện này phải bắt đầu từ ân oán giữa hai nhà Mạc, Lâm. Bọn họ đều là thủ lĩnh trong chốn giang hồ. Họ Mạc làm bá chủ thành phố biển Phương Thành phía Tây Nam, chuyên buôn lậu vũ khí, thuốc phiện, thịt người, bao gồm cả nội tạng lẫn người sống… có thể nói không một tội ác nào không làm. Họ muốn tiến quân vào thành phố lớn nhất phía Nam là Tây Đô, nhưng vấp phải sự phản đối của nhà họ Lâm. Hai bên xảy ra xung đột trong một cuộc đàm phán phân chia địa bàn. Ông nội của Phượng Nghi đã nổ súng giết chết Mạc Thông, em trai của người đứng đầu họ Mạc.

Từ đây, những vụ trả thù đẫm máu bắt đầu. Đỉnh cao là việc Bảo Xuyến bị bắt cóc. Người trực tiếp chỉ đạo vụ việc này là ông nội của Nguyễn Khang.

Một nửa vốn đầu tư để thành lập Eden là do nhà họ Mạc xuất ra. Mục đích là lợi dụng Eden để rửa tiền. Hai nhà Nguyễn, Mạc đã bắt tay hợp tác sau lưng họ Ngô. Giấy không gói được lửa, sau một thời gian bị qua mặt họ Ngô cũng biết, ép buộc họ Nguyễn phải tẩy trắng hoàn toàn. Nhưng con đường này, bước vào thì dễ, trở ra thì khó. Muốn rửa sạch đôi bàn tay đã nhúng chàm tội lỗi thì phải trả một cái giá rất đắc, thậm chí mất mạng, thậm chí liên lụy đến thế hệ sau.

Họ Mạc yêu cầu họ Nguyễn phải bắt cóc Bảo Xuyến, đổi lại họ sẽ rời khỏi thành phố này, cũng rút sạch chân rết khỏi Eden.

Vụ bắt cóc thành công. Bảo Xuyến được giao cho họ Mạc, bị dùng làm con tin để trao đổi một số tiền rất lớn và nhiều phi vụ làm ăn, nhưng cuối cùng vẫn bị họ Mạc ra lệnh sát hại. Kẻ thực hiện là nhà họ Nguyễn. Tuy nhiên, ông nội của Nguyễn Khang đã giao cô bé mới bốn tuổi cho nhà họ Dương nuôi dưỡng, dùng một cái xác trẻ con vừa chết ở bệnh viện để làm bằng chứng thay thế. Sự việc này bị che giấu hơn hai mươi năm.

Chuyện chỉ bại lộ khi nhà họ Lâm bắt cóc Nguyễn Khang để trả thù. Năm đó, Bảo Xuyến vừa qua đời trong một vụ sập chung cư, để lại con gái nhỏ là Dương Tuệ San vừa tròn bảy tuổi.

– Dừng lại.

Giọng cô run rẩy. Cô nhìn thẳng vào mắt y khó khăn hỏi:

– Vụ sập chung cư đó diễn ra ở đâu? Chung cư như thế nào?

– Thị trấn Đồng Sa. Chung cư bảy tầng xây trước giải phóng, không thang máy, đã quá cũ, sập vì nổ bình gas.

Âu Dương chậm rãi nói, ánh mắt thương cảm nhìn cô. Y lấy mấy tấm ảnh từ một trong hai túi hồ sơ trên bàn đưa qua.

Cô nhận lấy, cẩn thận nhìn từng tấm ảnh. Chúng giống như những thứ mà Trần Phong đã đưa cho cô, không sai một chút. Cô hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại rồi mở ra, không nói được một lời. Không, chính xác là không biết nói gì. Đầu óc hỗn loạn đến trống rỗng. Cô không hiểu, không hiểu gì cả.

– Em còn muốn nghe tiếp hay không?

Thầy Tần quan tâm hỏi. Cô muốn lắc đầu, nhưng cuối cùng lại thì thầm:

– Em muốn biết tất cả mọi chuyện. Hãy kể tất cả mọi chuyện cho em nghe.

Nhà họ Lâm sau khi biết Bảo Xuyến không bị sát hại, còn sinh ra một đứa con gái, không tiếp tục truy cứu, chấp nhận hòa giải, đổi lại rất nhiều lợi ích từ ba nhà họ Ngô, Nguyễn và Dương. Lúc này, họ Lâm phải đối mặt với sự tranh chấp địa bàn khốc liệt với những tay anh chị khác, đặc biệt là giang hồ Trà Bắc đang trên đường Nam tiến mạnh mẽ, nên không thể đón Tuệ San về nuôi, tránh gây nguy hiểm cho cô bé. Họ buộc nhà họ Dương chăm sóc Tuệ San như con ruột, cũng che giấu thân phận thật sự.

Khi họ Lâm ổn định được cục diện đã sáu năm sau, càng không thể nhận nuôi Tuệ San. Họ muốn giữ trong sạch cho thân phận của cô bé. Nhưng Tuệ San lúc này đã bị nhà họ dương nuông chiều hư hỏng, còn mắc bệnh tâm thần phân liệt đa nhân cách. Cho nên, Phượng Nghi phải đứng ra dạy dỗ Tuệ San lại từ đầu, dù đạt được một chút thành công nhưng đã quá muộn. Bánh xe vận mệnh đã không thể quay ngược trở lại.

– Sau đó mọi chuyện giống như em biết. Không ai ngờ rằng, một trong hai nhân cách lại mất trí nhớ vì tai nạn giao thông.

Âu Dương thở dài kết thúc câu chuyện.

Nhưng cô biết vẫn còn đầy bí mật phía sau. Y chỉ đơn giản hóa sự thật mà thôi. Và sự thật bị đơn giản hóa thì chưa phải là sự thật.

– Em bị tâm thần phân liệt là do nhà họ Dương gây ra sao?  Giáo sư Hoàng Vũ đã làm gì? Em không thể tìm được hồ sơ bệnh án nhưng chắc chắn hai người tìm được.

– Không thể nói là họ Dương gây ra, vì bản thân em đã có những dấu hiệu bệnh lý từ khi mẹ mất trong vụ sập chung cư. Họ chỉ tiếp tay đẩy tình trạng thêm tồi tệ mà thôi, cũng khiến sự cực đoan trong tâm tính của hai nhân cách càng thêm rõ ràng. Họ đã yêu cầu giáo sư Hoàng Vũ đưa vào đầu em những ký ức giả mạo, khiến cho hai nhân cách có quá khứ hoàn toàn khác biệt. Cách giáo dục, môi trường sống dành cho hai nhân cách cũng khác nhau, chỉ có một điểm chung duy nhất là đều phải gặp bác sĩ tâm lý.

Y khẽ cười, vẻ mỉa mai hiện rõ. Cô hiểu y đang trào phúng ai, nên chuyển đề tài.

– Có phải anh Triều đã cho hai người biết em muốn điều trị để tìm lại ký ức hay không?

– Đừng trách Hữu Triều. Cậu ấy cũng bất đắc dĩ mà thôi. Bởi vì thân thế của em rất đặc biệt.

– Còn chuyện gì hai người vẫn chưa kể sao?

Cô lần lượt nhìn y rồi nhìn thầy. Hai người họ cũng nhìn nhau.

Một lúc sau, thầy cầm hai túi hồ sơ đưa cho cô. Cái màu xám chứa ảnh cùng nhiều giấy tờ đã mở ra. Cái màu đen vẫn còn dán kín.

– Vì sao chúng tôi cho em biết sẽ được giải thích trong chiếc túi màu đen. Nhưng em phải nhớ cho thật kỹ, nếu em đã mở nó ra, đọc những gì ghi trong đó, nghĩa là em phải đứng cùng chúng tôi trên một chiếc thuyền, không thể quay đầu. Nếu em không mở ra thì phải đốt sạch nó đi.

-…

– Nhưng cho dù em quyết định thế nào, chúng tôi cũng đảm bảo sẽ không bao giờ làm hại em. Chúng tôi sẽ bảo vệ cho em và bé Minh. Nếu em muốn bất cứ điều gì, chỉ cần trong khả năng, chúng tôi cũng sẽ đáp ứng.

Thầy mỉm cười nhìn thẳng vào mắt cô, rất chân thành nghiêm túc. Cô biết Âu Dương cũng đang nhìn mình bằng ánh mắt đó.

Cô không mắc bệnh hoang tưởng, không nghĩ mình là thánh nữ xuyên không, người gặp người yêu, hoa gặp hoa nở, nhưng tình trạng thế này khiến cô rất hoảng loạn sợ hãi. Hứa hẹn hy sinh như thế nếu không phải người yêu cũng chỉ có một khả năng. Nhưng nếu khả năng này là sự thật, thì tất cả những gì cô nghe cả buổi tối chỉ là giả dối hay sao? Cô còn phải đối mặt với những chuyện gì nữa?

Không muốn, thật sự không muốn. Bao nhiêu đó là đủ rồi. Lúc này, cô không còn khả năng tiếp nhận thêm sự thật kinh hoàng nào nữa.

Cô muốn về nhà. Cô muốn ngủ. Ôm bé Minh thật chặt và ngủ một giấc thật ngon. Sáng mai tỉnh dậy, tất cả chỉ là một cơn ác mộng ngớ ngẩn, một sự đùa giỡn tàn tệ của trí não khi quá mệt mỏi trước vô số rắc rối nối đuôi nhau trong cuộc sống. Cô chỉ là một người bình thường, cho dù thân thế có ly kỳ một chút cũng là người bình thường, cho dù bị tâm thần phân liệt đa nhân cách vẫn là người bình thường.

Huống chi, cô còn không biết những gì mình nghe là thật hay giả.

[ Điền dã ] Phần 2 – Tá đao sát nhân

.

Có lẽ nhiều người biết đến thảm sát Mỹ Lai với số người chết khoảng nửa ngàn, gây ra bởi quân Hoa Kỳ. Có lẽ nhiều người không biết những vụ thảm sát gây ra bởi quân Hàn quốc với số ngưới chết lên tới mấy ngàn. Nhưng trong đoạn nhật ký điền dã này, bạn chỉ đề cập đến thảm sát Ba Chúc, gây ra bởi Khmer Đỏ, số người chết khoảng 3.200 người.

Chúng ta được dạy rằng quân Khmer Đỏ tấn công Ba Chúc, chiếm đóng trong 12 ngày, tàn sát bằng những biện pháp dã man gần 3.200 mạng người. Nam bị đập đầu, chặt đầu hoặc bắn chết, đâm nhiều nhát bằng tầm vong. Phụ nữ bị cưỡng hiếp tập thể rồi giết bằng cách đâm gậy tầm vong vót nhọn từ vùng kín hoặc hậu môn lên tận cổ họng, hoặc đâm nhiều nhát bằng tầm vong. Trẻ em bị xé đôi, xiên cây, đập đầu vô gốc cây hoặc quăng lên cao và đỡ bằng lưỡi lê. Nếu nhiều người chui vô hầm, vô hang trốn thì bị xả súng, ném lựu đạn vào cho chết hết…

Còn nhiều và nhiều nữa những câu chuyện chúng ta được sách vở kể cho nghe. Nhưng có lẽ chỉ đến nơi đó mới nghe được câu chuyện thế này.

“Chú Sáu hồi tưởng lại lúc đó có quân đội đóng ở đây, nhưng không nhiều, cái lý do không đủ quân để đánh thực hư thế nào chú không rõ. Nhưng theo chú nhận xét bộ đội mình không yếu ớt như vậy, có bao nhiêu quân Pôn Pốt đó thì không nhằm nhò gì cả vì Pôn Pốt tràn vào đây 10 ngày, còn quân mình chỉ đánh 01 đêm là không còn một tên.”

Vì sao vậy? Vùng này là đất thiêng, đất thánh của những tôn giáo bản địa Tây Nam Bộ, đặc biệt là Tứ Ân Hiếu Nghĩa, mà ai kia thì vô thần. Chết bớt cho đỡ phức tạp trong quản lý. Ai kia cần một cái cớ để đánh qua biên giới. Cái cớ có giá 3.200 mạng người.

Bạn đến Ba Chúc vào 3h khuya, xe dừng ngay trước cổng Nhà mồ, hiện có khoảng 1.200 bộ xương người trong đó. Bạn ngủ ở chùa Tam Bửu đối diện Nhà mồ. Đây không phải chùa Phi Lai còn lưu lại dấu máu thấm vào những bức tường đến nay vẫn rõ ràng đậm nét, vì máu đổ nhiều quá mà. Nhưng ở chỗ này thì nằm đâu không có người chết. 04 đứa con gái và 01 ông Gánh 60 tuổi ngủ trong chùa. Nguyên cái chùa mênh mông vắng ngắt được 05 người mỗi đêm khuya.

Cảm giác hết sức vi diệu.

Cho nên, đến ngày cuối cùng bạn mới đặt chân vô Nhà mồ, bạn sợ đến sớm liền khăn gói lên đường về nhà mẹ đẻ luôn, khỏi điền dã khảo sát nghiên cứu chi hết.

Còn đúng 1 tháng 7 ngày nữa (ngày 16.3 Âm lịch năm nay nhằm thứ 6, 22.4 Dương lịch) là cúng giỗ tập thể Nhà mồ Ba Chúc, tính đến nay là 37 năm (1979-2016). Nghe anh Tâm nói đùa là mỗi lần đến ngày đó đông vui, tưng bừng như hội, gói bánh ít bánh tét ăn không hết, cho nhau cũng như không, vì nhà nào cũng cúng giỗ. Gia đình anh Tâm bị giết hết hai bên nội ngoại, còn mình anh sống, là trẻ mồ côi, năm nay 39 tuổi.

Ai muốn về Ba Chúc năm nay để đi đám giỗ thì đặt xe Huệ Nghĩa 150.000đ/chuyến. Đi xuống Tri Tôn sẽ có xe trung chuyển qua Ba Chúc. Thị trấn giờ cũng không hoang vu như xưa kia, có nhà trọ ở thoải mái. Ăn đám giỗ 2 ngày thứ bảy, chủ nhật rồi về. Giá cả sinh hoạt ở đây rất hữu nghị, tô bún cá lóc 5.000đ

Sau khi lăn lê bò lết ở đó bạn đã có khả năng làm hướng dẫn viên Ba Chúc, đảm bảo chất lượng phục vụ chuyên nghiệp, không lạc đường.

Ảnh đính kèm là một gốc cây khô. Trẻ em Ba Chúc bị Khmer Đỏ đập đầu vào đây, chết bao nhiêu không đếm hết. Bên cạnh là chùa Thanh Lương thuộc Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Hiện cây khô bị một cây bồ đề quấn rễ lên chằn chịt. Cây thiêng nên cứ ngang nhiên nằm giữa đường vậy thôi.

Tạm kết vậy đi, còn chuyện tâm linh sẽ viết ở bài tiếp theo.

12814616_1585084851818334_2921313017311884958_n

Kiến trúc đền thờ Hindu giáo

Cao học Văn hóa học khóa 16A thực hiện: 
Thanh Quyên, Phương Tri, Đỗ Uyên, Bảo Vy

“Ấn Độ là xứ sở của tôn giáo, tôn giáo của tăng lữ,
đồng thời là tôn giáo của vũ nữ” *

Chương 1. Khái quát kiến trúc đền thờ Hindu giáo

1.1. Quá trình hình thành và phát triển

1.1.1. Thời cổ đại

Các sử gia nói đền Hindu đã không tồn tại trong thời kỳ Vê Đa (1500 – 500 trước Công nguyên). Những phần còn lại của cấu trúc ngôi đền đầu tiên được phát hiện ở Surkh Kotal, một nơi ở Afghanistan bởi một nhà khảo cổ học người Pháp vào năm 1951. Nó đã không dành riêng để thờ cúng cho một vị thần nhưng lại dành để thờ cúng vua Kanishka (127-151)

Các cấu trúc ngôi đền đầu tiên không được làm bằng đá hoặc gạch. Trong thời cổ đại, đền thờ công cộng hoặc cộng đồng đã có thể làm bằng đất sét với mái lá được làm bằng rơm hoặc lá. Đá chỉ trở thành vật liệu được ưa thích trong những giai đoạn xây dựng sau này, hình thức ban đầu là những những đền thờ khắc sâu vào trong đá tạo thành các hang động – đền thờ,  là hình thức kiến trúc đục ngầm trong đá  (rock-built hoặc rock-cut).

Undavalli_Caves

The Undavalli Caves

1.2.1  Thời trung đại

Phù điêu và thần tượng đã được tìm thấy trong khoảng thế kỷ thứ II và III, nhưng không có một kiến trúc đền thờ nào còn sót lại.  Các học giả đưa ra giả thuyết rằng những ngôi đền cổ của Hindu giáo được mô phỏng theo cấu trúc một ngôi nhà của cư dân bản địa, hoặc một cung điện.  Những ý tưởng thiết kế và xây dựng đền thờ Hindu giáo giai đoạn này được cho là lấy hình mẫu từ những đền thờ của đạo Jain và Phật giáo,  nhưng sau đó đã có sự phát triển và tiến hóa mạnh mẽ trong cuộc cạnh tranh của các tôn giáo với nhau.

Với sự khởi đầu của triều đại Gupta thế kỷ thứ IV, đền thờ Hindu phát triển và đổi mới mạnh mẽ về thiết kế, phạm vi, hình thức, sử dụng đá và vật liệu mới cũng như tổng hợp mang tính biểu tượng của nền văn hóa và những nguyên tắc trong các biểu hiện nghệ thuật.  Đây là giai đoạn hoàn thiện những ý tưởng  về Purusa, Mandapa trong tâm thức các tín đồ, trong việc thự hiện các nghi lễ cúng tế, cũng như các họa tiết mang tính biểu tượng liên quan đến pháp, nghiệp chướng, ái dục, của cái, giải thoát… Đền thượng tầng được xây dựng từ đá, gạch và nhiều loại vật liệu. Cánh cổng, lối vào, tường và các cột được chạm khắc phức tạp, trong khi các phần của ngôi đền được trang trí bằng vàng, bạc và đồ trang sức. Brama, Vishnu, Shiva và các vị thần khác đã được thờ trong ngôi đền Hindu.

Thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VI đánh dấu sự ra đời của phong cách Vidharbha, thành tựu tồn tại ở miền trung Ấn Độ như hang động Ajanta, Pavnar, Mandhal và Mahesvar. Ở Nam Ấn Độ, thời kỳ này được ghi dấu với một số ngôi đền bằng đá, sớm nhất trong khu vực như đền thờ Chalukya.

Trong lần thứ VI và VII, ngôi đền được thiết kế tinh tế hơn nữa trong triều đại Maurya, bằng chứng mà ngày nay tồn tại ở Ellora và Elephanta.

Khoảng thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ VII, những kiến trúc đền thờ ngoài trời được xây dựng. Những ngôi đền Hindu ở miền bắc Ấn Độ và phía nam Ấn Độ đã bắt đầu có sự  khác biệt. Tuy nhiên, các hình thức, chủ đề, biểu tượng và ý tưởng trung tâm trong việc thiết kế vẫn giống nhau.

Từ thế kỷ thứ IX, sự khác biệt trong kiến trúc Bắc – Nam Ấn Độ hình thành rõ rệt và kéo dài đến ngày này, chủ yếu gồm 3 phong cách:  Nagara – Bắc Ấn (thế kỷ thứ IX), Dravida – Nam Ấn (từ thế kỷ thứ XI đến thể ký XVIII), Vasara – Trung Ấn.

1.2  Đặc điểm các phong cách kiến trúc

1.2.1  Phong cách Nagara

Còn gọi là phong cách Bắc Ấn, hình thành từ thế kỷ thứ IX, mái đền có cấu trúc hình dáng những đường cong mềm vươn lên, trên đặt cái mũ hình lẳng bẹt, có một tháp cao gọi là Shikhara; công trình không có sân, đặt đơn độc trên những khu đất trống, bao gồm mặt bằng môn sảnh, thần đường, phòng cầu phúc đều có hình dáng vuông. Phong cách Nagara được xây theo lối hướng thượng, các tháp cao dần đều từ cổng vào đến tháp chính.

Khajuraho_-_Kandariya_Mahadeo_Temple

Đền thờ Kandariya Mahadeo, Khajuraho

1.2.2  Phong cách Dravida

Còn gọi là phong cách Nam Ấn, hình thành từ thế kỷ thứ XI đến thể ký XVIII mái đền có cấu trúc hình kim tự tháp đỉnh bằng, đặt trong những tường bao nhiều lớp hình thành các sân trong, tháp cổng cao lớn gọi là Gopura. Kiến trúc Nam Ấn có tính truyền cảm mãnh liệt, nhiều mái tháp cao đến 50-60m, tổ hợp bởi những đường thẳng khúc chiết, vươn lên sừng sững, khiến cho tổng thể công trình rất có sức mạnh, mang tính chất hướng về trung tâm.

Đền thờ mang phong cách Dravidian cơ bản có 4 phần, có thể thêm bớt tùy theo điều kiện từng vùng và từng giai đoạn lịch sử: (1) chính điện được gọi là Vimana (2) Các cửa hoặc Mandapas (3) Cổng – kim tự tháp, gọi là Gopurams (4) Hội trường, Chawadis. Bên cạnh đó, một ngôi đền luôn có hồ nước hoặc giếng nước, sử dụng cho các mục đích thiêng liêng, hay phục vụ sinh hoạt cho các tu sĩ.

Meenakshi Amman temple

Đền thờ Meenakshi Amman

1.2.3  Phong cách Vasara

Còn gọi là phong cách Trung Ấn, phát triển ở cao nguyên Decan.Đây là tên được đặt cho một phong cách kiến trúc phát triển trong những thế kỷ thời trung cổ và kết hợp cả hai phong cách Nagara và phong cách Dravida.

Phong cách này làm giảm chiều cao của các tầng riêng biệt mà không làm giảm số lượng của các tầng. Các cấu trúc hình bán nguyệt của Phật giáo cũng được kết hợp trong một số các ngôi đền của phong cách này. Các ngôi đền của Halebid, Belur, Somanathapura và Pattadakal là một số ví dụ về phong cách này.

vasara

Đền thờ Halebidu

Chương 2.  Kiến trúc cơ bản của một ngôi đền Hindu giáo

2.1  Sách hướng dẫn

Các văn bản hướng dẫn trong việc xây dựng các công trình kiến trúc, bao gồm những đền thờ Hindu giáo được gọi là vastu-Sastra (nghĩa đen, khoa học về nhà, Vas-tu là một hỗn hợp tiếng Phạn có nghĩa là Vas cư trú, tu có nghĩa là bạn); các chứa vastu-Vidya (nghĩa đen, kiến thức về nhà ở).

Vào thế kỷ thứ VI, những văn bản hướng dẫn xây dựng nhiều ngôi đền nguy nga đã lưu hành ở Ấn Độ. Những nội dung mà Vastu-Sastra hướng dẫn bao gồm các chương về xây dựng nhà, quy hoạch thị trấn, và làm thế nào có hiệu quả các làng, đền thờ thị trấn và các vương quốc tích hợp, nước các cơ quan và các khu vườn bên trong họ để đạt được sự hài hòa với thiên nhiên, như là lý tưởng của nghệ thuật và một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội và tinh thần Hindu.

Silpa Prakasa của Orissa, tác giả của Ramacandra Bhattaraka Kaulacara xuất hiện vào thế kỷ thứ IX và thứ X, là một luận thuyết về kiến trúc đền thờ. Silpa Prakasa mô tả các nguyên tắc hình học trong mọi khía cạnh xây dựng đền thờ, được hoàn thiện trong các đền thờ Hindu phổ biến ở các tiểu ban phía đông của Ấn Độ. Ở phía Bắc Ấn Độ, Brihat-Samhita bởi Varāhamihira là tiếng Phạn cổ dẫn trích dẫn rộng rãi từ thế kỷ thứ VI mô tả thiết kế và xây dựng ngôi đền Hindu theo phong cách Nagara.

Ở Tây Bắc Ấn Độ, hướng dẫn xây dựng đền thờ được phát hiện ở Rajasthan là Sutradhara Mandana của Prasadamandana (nghĩa đen, hướng dẫn cho việc lập kế hoạch và xây dựng một đền thờ).  Manasara, một bản văn gốc miền Nam Ấn Độ, ước tính lưu hành vào thế kỷ thứ VII, là một cuốn sách hướng dẫn về thiết kế và xây dựng những ngôi đền Nam Ấn. Isanasivagurudeva paddhati là một văn bản tiếng Phạn từ thế kỷ thứ IX mô tả nghệ thuật xây dựng đền thờ ở phía Nam và miền Trung Ấn Độ.

2.2 Người xây dựng

Văn bản cổ của Ấn Độ gọi các thợ thủ công và những người xây dựng đền thờ làm ” Silpin ”, bắt nguồn từ ” Silpa ”. Một trong những văn bản tiếng Phạn sớm nhất đề cập đến Silpa là Shilpa Sastra, mô tả việc giáo dục và những đặc điểm tốt của các nghệ nhân và kiến trúc sư  xây dựng đền thờ. Giáo dục phổ thông của một Silpin ở Ấn Độ cổ đại bao gồm Lekha hoặc Lipi (bảng chữ cái, đọc và viết), Rupa (vẽ và hình học), Ganana (số học). Chúng được truyền đạt từ 5 tuổi đến 12. Các học sinh tài năng sẽ tiếp tục học tập cao hơn việc nghiên cứu Shilpa Sastra cho đến tuổi 25. Ngoài năng lực kỹ thuật chuyên môn, Shilpa Sastra dạy rằng Silpins tốt nhất để xây dựng một ngôi đền Hindu là những người biết bản chất của kinh Vệ Đà và Kinh A Hàm, tuân thủ tốt các nguyên tắc của khoa học truyền thống và toán học, hội họa và địa lý. Hơn nữa, họ phải thoát khỏi cảm giác ghen ghét  trong tâm tưởng, luôn tôn trọng sự công bình, có ý thức kiểu soát bản thân đối với hạnh phúc, thực hiện bố thí và nhiệt tâm trong mọi việc mình làm.

Theo Silparatna, một dự án đền thờ Hindu sẽ bắt đầu với một Yajamana (người bảo trợ), và bao gồm một Sthapaka (Guru, hướng dẫn tâm linh và kiến trúc sư – tu sĩ), một Sthapati (kiến trúc sư), người sẽ thiết kế các tòa nhà, một Sutragrahin (trắc địa), và nhiều Vardhakins (công nhân, thợ xây, thợ sơn, plasterers, người giám sát) và Taksakas (điêu khắc).

Có một truyền thống là tất cả các công cụ sử dụng trong việc xây dựng ngôi đền và các công đoạn xây dựng đều phải thực hiện những nghi lễ tương ứng. Ví dụ, nếu một người thợ mộc hay điêu khắc cần thiết để chặt một cái cây hoặc xẻ một tảng đá từ một ngọn đồi, ông sẽ làm nguôi sự giận dữ của cây hoặc đá với lời cầu nguyện, tìm kiếm sự tha thứ để cắt nó từ môi trường xung quanh, và giải thích ý định và mục đích của mình. Rìu dùng để cắt cây sẽ được thoa bơ để giảm thiểu tổn thương cho cây.

2.3  Vị trí

Các địa điểm thích hợp cho một ngôi đền, đề nghị văn bản tiếng Phạn cổ, là gần nước và các khu vườn, nơi sen và hoa nở rộ, nơi thiên nga, vịt và các loài chim khác đều được cư ngụ, nơi mà động vật nghỉ ngơi mà không sợ thương tích hoặc bị tổn hại. Những nơi hài hòa này được cho là nơi các vị thần đến thăm thú vui chơi, do đó chúng là địa điểm thích hợp nhất cho các đền thờ Hindu.

Các ngôi đền Hindu lớn được khuyên nên xây dựng ở Sangams – nơi hợp lưu của những dòng sông, bên bờ sông, hồ và bờ biển. Nếu đền thờ xây ở những nơi không có nguồn nước tự nhiên, phải xây những ao hoặc đào giếng nước ở trước mặt hoặc bên trái của ngôi đền. Nước được sử dụng và những nghi lễ cúng nguyện và cung hiến cho các vị thần, nước trong văn hóa Ấn Độ cũng như lửa có chức năng thanh tẩy linh hồn và tội lỗi.

2.4  Cấu trúc

Cấu trúc đền Hindu hầu như giống nhau trên khắp đất nước Ấn Độ. Mặc dù có thể có thêm bớt một số công trình phụ khác nhau theo ảnh hưởng của từng vùng đất, do khả năng tài chính của từng ngôi đền, thỉnh thoảng là do ảnh hưởng chính trị. Chẳng hạn, trong chính điện có thể có cùng lúc hai pho tượng (một tượng thật, một phiên bản) hoặc những bức tường cao xung quanh các ngôi đền ở Nam Ấn ban đầu là để bảo vệ đền trước những người Hồi giáo xâm lăng, về sau trở thành đặc trưng cho phong cách kiến trúc Nam Ấn.

Người Hindu cúng bái không theo nhóm, chủ yếu là cúng riêng, trừ những dịp lễ đặc biệt. Vì vậy cấu trúc đền thờ dựa theo nguyên tắc chỉ có một chính điện nhỏ gọi là Garbha Griha (phần A trong sơ đồ), nơi đặt tượng thần. Có một lối đi xung quanh chính điện này. Đây là trung tâm của ngôi đền, trên đó thường là mái vòm tròn hoặc mái xoắn ốc, trừ những ngôi đền Nam Ấn, mái xoắn thường ở ngay lối vào. Sau khi cầu kinh, nhất thiết phải đi xung quanh chính điện, cho nên lối đi xung quanh tượng thần là phần cốt yếu trong cấu trúc ngôi đền.

Có một lối đi nhỏ gọi là antrala (B) nối giữa chính điện và mandapa (C), tức là sảnh lớn với những hàng cột, nơi các tín đồ tập hợp để cầu cúng. Những cái cột phần lớn bằng cẩm thạch trên đó chạm khắc hình những nữ thần, những tiểu thần, những hoạt động trong đời sống của các vị thần chính, thỉnh thoảng là cảnh trong những thiên trường ca.

12583624_1553865218273631_420226034_n

Sơ đồ cấu trúc cơ bản một đền thờ HIndu giáo

Ở một số ngôi đền hình chạm khắc thường xuất hiện trên rất nhiều cột đá cẩm thạch và trên bề mặt các bức tường bên ngoài đền. Cổng vào đền gọi là ardha mandapa (D). Những ngôi đền lớn còn có những khu vực gọi là maha mandapa (E) và kalyana mandapa (F) tăng thêm chỗ cho nhiều tín đồ trong dịp lễ hội.

difference

Sự khác biệt giữa phong cách kiến trúc Nam Ấn và Bắc Ấn

2.5  Thiết kế

Đền thờ Hindu được thiết kế theo hình học gọi là Vastu-Purusha-Mandala.  Mandala có nghĩa là những đồ hình có dạng đối xứng, cân đối quanh một trục trung tâm, như hình vuông và hình tròn. Purusha là bản chất phổ quát ở cốt lõi của Hindu giáo truyền thống, nghĩa là linh hồn vũ trụ – đại ngã, trong khi vastu nghĩa cấu trúc nhà ở. Các thiết kế đưa ra một ngôi đền Hindu trong một cấu trúc tự lặp đi lặp lại đối xứng bắt nguồn từ niềm tin trung ương, thần thoại, hài hòa và nguyên tắc toán học.

Vastu_Purusha_Mandala

Hình đồ Vastu-Purusha-Mandala

Bốn hướng chính giúp tạo ra các trục của một ngôi đền Hindu, xung quanh hình thành một hình vuông hoàn hảo trong không gian có sẵn. Các vòng tròn của Mandala tạo thành quảng trường. Hình vòng tròn được lấy ý tưởng từ những gì con người quan sát trong cuộc sống hàng ngày (mặt trăng, mặt trời, chân trời, giọt nước, cầu vồng). Các hình vuông được chia thành những ô vuông nhỏ gọi là padas (thường có 64, hoặc 81 ô vuông). Mỗi padas là khái niệm được gán cho một nguyên tố tượng trưng, ​​đôi khi là một vị thần. Trung tâm của hình vuông dành riêng cho Brahman, và được gọi là Brahma padas.

Các ngôi đền có cửa hướng về phía mặt trời mọc, và lối vào cho các tín đồ cũng thường là phía đông, một số ngôi đền Nam Ấn có cửa vào phía Nam.

 Bên dưới Mandala là Garbha-Griya, một khoảng không gian khép kín, hình vuông, không cửa sổ. Trong không gian này thường là một Murti – tượng thần. Đây là Murti của các vị thần chính, và điều này thay đổi tùy theo mỗi ngôi đền.

 Phía trên Vastu-Purusha-Mandala là một cấu trúc thượng tầng với một mái vòm gọi Shikhara ở phía Bắc Ấn Độ, và Vimana ở miền Nam Ấn Độ. Đôi khi, trong những ngôi đền tạm, mái vòm có thể được thay thế bằng tre. Mái vòm dạng chóp tròn hoặc mái vòm được thiết kế như một kim tự tháp, hình nón hoặc hình dáng núi. Các học giả cho rằng hình dạng này được lấy cảm hứng từ ngọn núi vũ trụ của Meru hay đỉnh núi Kailash của Himalaya, nơi các vị thần ngự trị.

Ngôi đền lớn có đại sảnh với hàng cột gọi là Mandapa phục vụ như phòng chờ cho khách hành hương và tín đồ. Các mandapa có thể là một cấu trúc riêng biệt trong các đền thờ cũ, nhưng trong ngôi đền mới hơn không gian này được tích hợp vào cấu trúc thượng tầng đền thờ. Những ngọn tháp có nhiều kiểu dáng và hình dạng, nhưng tất cả đều có độ chính xác toán học và các biểu tượng hình học, chủ đề và nguyên tắc thường thấy là hình tròn và hình vuông.

Những bức tường của đền thờ được trang trí trực quan với nghệ thuật chạm khắc, tranh vẽ hoặc hình ảnh để truyền cảm hứng cho các tín đồ. Các trụ cột, tường và trần nhà thường cũng có chạm khắc rất công phu. Những hình ảnh này xuất xứ từ những sử thi của người Ấn Độ, những câu chuyện thần thoại Veda về đúng và sai, đức hạnh và ngược lại. Họ là những vị thần, hay những vị anh hùng.

Đôi khi, những tác phẩm điêu khắc trên các bức tường bên ngoài đền thờ miêu tả cảnh quan hệ tình dục, như ở đền thờ Khajuraho, thể hiện triết lý của đạo Hindu về sự phân cách mong manh giữa thiêng liêng và phàm tục, không gian bên trong (thiêng liêng) và bên ngoài đền thờ (phàm tục) chỉ ngăn cách nhau bởi một bước chân.

Famous-erotic-sculptures-of-Khajuraho

Một bức điêu khắc trên tường bên ngoài đền thờ Khajuraho,
mô tả cảnh quan hệ tình dục tập thể

Một ngôi đền Hindu điển hình là nơi thể hiện sự đa dạng và phong phú của nghệ thuật tạo hình Ấn Độ – từ những bức tranh điêu khắc, từ các biểu tượng tượng trưng để chạm khắc, cho đến cách bố trí chu đáo của không gian để phản ánh sự tổng hợp của các nguyên tắc toán học với tinh thần Hindu.

Văn bản tiếng Phạn cổ phân loại thần tượng và hình ảnh trang trí trong đền thờ theo nhiều cách. Ví dụ, một trong những phương pháp phân loại theo hình thức:

– Chitra – hình ảnh có 3 chiều và hình thành hoàn chỉnh, tức là những bức tượng tròn.

– Chitrardha – hình ảnh được khắc trên mặt phẳng, những bức phù điêu.

– Chitrabhasa – hình ảnh có 2 chiều như những bức tranh trên tường và các loại vải vóc.

Một cách khác để phân loại là bởi tình trạng biểu cảm của hình ảnh:

– Raudra hoặc ugra – là những hình ảnh mang ý nghĩa sợ hãi. Những vị thần thường mắt tròn, mang vũ khí, đem những vòng trang sức bằng hộp sọ và xương. Những vị thần này được thờ cúng bởi những người lính trong chiến tranh, trước khi ra trận, hoặc những người trong những lúc đau khổ hay có lỗi. Đền thờ loại này không được thiết lập bên trong làng và thị trấn, chúng được xây dựng bên ngoài và ở các khu vực xa xôi.

www-patheos-com

Nữ thần Durga giết quỷ Mahishasu

– Shanta và saumya – là những hình ảnh yên tĩnh, thái bình và diễn đạt tình yêu, lòng từ bi, lòng tốt và đức tính tốt đẹp khác trong đền thờ Hindu. Những hình ảnh này sẽ mang biểu tượng của hòa bình, kiến thức, âm nhạc, sự giàu có, hoa, gợi cảm…. Ở Ấn Độ cổ đại, những ngôi đền này là yếu tố nổi bật trong làng và thị trấn.

mahalkshmi

Nữ thần Lakshmi mangd đến tài lộc

Chương 3. Đặc điểm của kiến trúc đền thờ Hindu giáo

2.1  Sự tượng trưng của trung tâm và phương hướng.

Đền thờ Hindu xuất hiện muộn hơn kiến trúc Phật giáo, do thời kỳ đầu của tôn giáo này là sát sinh tế lễ, làm các dàn tế là chính, nguyên nhân thứ hai là do các đoàn thể tôn giáo Hindu thành lập muộn, đến thế kỷ thứ IX mới xuất hiện.

Đặc điểm của hình thức mái là giống như đỉnh núi Meru, là dạng Nagara ở phía Bắc hay dạng Doravida ở phía Nam. Núi Meru là nơi ở của thần quyền Hindu giáo, được coi là trung tâm của vũ trụ, vì thế việc biểu hiện trung tâm là chủ thể quan trọng nhất của đền thờ Hindu giáo.

Phần ngoài của các ngôi đền hình đỉnh núi được trang trí rất phức tạp, đa phần thể hiện tinh thần ham muốn nhục dục, điều đó phụ thuộc vào tâm lý hảo phồn của người Ấn Độ. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho rằng sự nhấn mạnh tính biểu trưng của núi Meru mới là quan trọng nhất.

Arunachaleshwara-Temple-Tiruvannamalai

Đền thờ Arunachaleshwara, Tiruvannamalai

Hình thức mái (tường ngoài) của đền thường có gấp khúc để chứa đựng được nhiều hình điêu khắc hơn, hình thức này gọi là Ratha. Trong khi đó, mái đền (Shikhara) thì được thu dần về phía trên , tạo cảm giác động thái mãnh liệt để nhấn mạnh ngôi đền mang ý nghĩa tượng trưng là trung tâm vũ trụ. Ý nghĩa tượng trưng này sau này còn được gắn vào  một dạng tháp cổng lớn có tên là Gopura của các ngôi đền Nam Ấn.

Ví dụ tiêu biểu cho sự biểu tượng trung tâm của đền đài Ấn Độ là ngôi đền Kandariya Mahadeva ở Khajuraho. Ngôi đền này có hình thức mái vươn mạnh mẽ và kết thúc bằng một phần đỉnh gọi là bảo tháp.

Chủ đề trung tâm không chỉ thể hiện ở ngoại thất mà còn thể hiện ở nội thất. Các mặt thất nhỏ để cúng các vị thần luôn chiếm các vị trí quan trọng. Phần quan trọng nhất trong một ngôi đền Hindu là chánh điện Garbhagriha. Căn phòng được xây dựng ở ngay chính trung tâm ngôi đền với rất ít cửa sổ, trong đó đặt biểu tượng của vị thần mà ngôi đền thờ phụng. Ví dụ: trong ngôi đền của thần Shiva, thường đặt Linga cho biểu tượng của vị thần này. Năng lượng tuôn trào từ chánh điện.  Ba cửa của căn phòng chỉ là cửa giả để nguồn năng lượng của thần linh được lưu giữ trong Garbhagriha. Kiểu xây dựng này cũng phản ánh cho toàn bộ phần bao quanh ngôi đền.

Các đền thờ Hindu khi xây dựng đều tuân thủ nghiêm ngặt cấu trúc hình khối như kiểu Mandala thị Hindu giáo thường được quy hoạch theo một trật tự nhất định với đồ hình vuông. Mandala/Mạn-đà-la trong tư tưởng Ấn Độ là một đồ hình huyền thuật tượng trưng cho vũ trụ, hoặc vuông hoặc tròn đồng tâm tượng trưng cho vị trí trung tâm. Bình đồ bố cục hình vuông của ngôi đền Ấn Độ giáo dựa trên đồ hình này mà hình thành gọi là Vatsupurusa-mandala/Mạn-đà-la của hiện thể con người vũ tru (Kramrisch 1978: 46-50; Michell 1988: 71-3, fig. 28). Ngôi đền Prambanan ở Indonesia được kiến thiết rất cẩn trọng bởi các kiến trúc sư tài ba dựa trên quy hoạch chính của một đồ hình Mandala mà sau này thường thấy trong Phật giáo Mật Tông. Theo những luận thuyết Ấn cổ, các kiến trúc đền đài, nhà ở, đô thị Hindu giáo thường được quy hoạch theo một trật tự nhất định với đồ hình vuông.

Tính phương hướng của đền thờ Hindu giáo có hai cách thể hiện: cách thứ nhất là biểu hiện ở bố trí cửa đền ở hướng Đông, cửa của sự sống.  Cửa hướng đông là cửa mở duy nhất, ba cửa còn lại của mỗi ngôi đền đều được bít kín, gọi là cửa dụ, vì người Hindu giáo quan niệm rằng cửa mở chỉ dành cho người phàm, còn thần linh có phép thần thông sẽ ra vào các cửa dụ. Lối vào từ hướng Đông là dành cho hầu hết các thần. Lựa chọn thứ hai là các hướng khác ngoại trừ hướng Nam. Tuy nhiên những thần như Shree Kali Mata và Shree Hanuman lại thíc quay về hướng Nam.  Người dân Ấn Độ tin rằng 4 hướng được canh giữ bởi 4 vị thần:

1) Shree Indra ở hướng Đông : vua của các vị thần
2) Shree Varuna ở hướng Tây: thần mưa, nước
3) Shree Kubera ở hướng Bắc: thần của cải
4) Shree Yama ở hướng Nam: thần chết chóc.

Đền thờ mỗi vị thần khác nhau sẽ quay về những hướng khác nhau tùy theo mục đích sử dụng. Cách thứ hai là phần bên trong các Garbhagriha bao giờ cũng có một hành lang dành cho “nghi thức xoay phải”, người đến thăm đền sẽ di chuyển dọc các hành lang theo chiều kim đồng hồ.

2.2  Quan niệm chính và phụ, âm và dương.

Kiến trúc “tạc đá” của Ấn Độ có hai loại chính là “kiến trúc động đá” (kiến trúc đục ngầm trong đá” và”kiến trúc đá tảng”.

“Kiến trúc đá tảng” là kiến trúc tạo thành từ việc tạo khắc các khối đá khổng lồ, kiến trúc đá tảng thường chỉ có không gian bên ngoài, không có không gian bên trong hay có một phần rất ít. Ví dụ tác phẩm “Chiến xa” ở Mamallapuram, một tác phẩm kiến trúc tạc đá nổi tiếng  khác là đền thờ số 16 Kailasa Shiva thuộc quần thể động đá Ellora (756-773 sau CN), cách thi công đền thờ này  là đầu tiên người ta tạc phần ngoài  của tảng đá lớn trên một vách núi, sau đó mới tạc không gian bên trong nó.

Về quan niệm, kiến trúc động đá và kiến trúc đá tảng là bộc lộ hình thức kiến trúc “chính”, “phụ”. Kiến trúc động đá bộ lộ quan niệm “phụ”(âm) vào không gian kiến trúc, còn kiến trúc đá tảng bộc lộ quan niệm “chính” (dương) vào thực thể kiến trúc.

Quan niệm âm dương còn thể hiện qua kiến trúc của một đền thờ. Đền thờ Nagara có hình dạng như 1 nữ thần đang ngồi và phần chính điện thờ “linga” cũng chính là “yoni” của nữ thần. Lối kiến trúc này thể hiện sự hòa hợp về âm dương giữa thần Shiva và vợ  nữ thần Kali.

temple_blog-girl

Quan điểm âm – dương trong kiến trúc đền thờ Hindu giáo

Ở đền thờ Nam Ấn, kiến trúc lại có hình dạng của 1 vị thần đang nằm nếu nhìn nghiêng và có dạng Mandala hình vuông khi nhìn từ trên xuống. Chân thần tượng trưng cho những tháp cổng Gopuram và qua chiếc cổng  đó, đi dần vào bên trong sẽ là trung tâm Mandala, chính điện Kalasha.

2.3  Hình ảnh tượng trưng của nước và bậc cấp

Nước có ý nghĩa quan trọng đối với một đất nước có khí hậu nóng nực và oi bức. Tầm quan trọng của nước đã ăn sâu vào tư tưởng cũng như tôn giáo Ấn Độ. Ý nghĩa của nước chính là nguồn gốc của sinh mệnh. Do đó, giếng nước đóng vai trò quan trọng trong làng quê Ấn Độ, giếng nước có ở đền thờ đạo Hindu, đạo Hồi, cung điện hay pháo đài, thành quách. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng  nói đến văn hóa Ấn Độ mà không nói đến giếng nước hay hồ nước là một thiếu sót thật sự. Vì vậy, những hồ chứ  nước thường được tìm thấy trong các đền thờ Hindu. Nguồn nước được cho là nước thánh từ sông Hằng được sử dụng đề thanh tẩy hoặc dùng trong những nghi lễ hiến tế.

Bậc cấp trong đền thờ Nagara cũng là một yếu tố quan trọng khác của văn hóa kiến trúc  Ấn Độ. Muốn vào được bên trong đền thờ phải vượt qua những bậc cấp này, thể hiện tinh thần hướng thượng. Kiểu kiến trúc lộ thiên này rất gắn bó với đời sống của người Ấn  Độ, họ thường ngồi nghỉ hoặc ngủ trên kiến trúc lộ thiên này. Bậc cấp tại bến phà sông Hằng ở Varanaxi là một ví dụ, ở đó người ta tắm rửa, trừ tà, nghỉ ngơi, giao lưu, hỏa táng, tồn tại, đó là nơi giao tiếp công cộng quan trọng.

Đền thờ Nam Ấn cũng có bể tắm nghi lễ hoặc hồ bơi, có thể có mái vòm rộng, được bao quanh bởi tường và tháp cổng gopura. Những kiến trúc vòng ngoài này thường trở nên mở rộng và hùng vĩ hơn theo thời gian, thậm chí to hơn cả kiến trúc bản thân ngôi đền. Những đặc điểm này hiện còn tồn tại trong ngôi đền Brihadishvara ở Tanjavur.

Ở Ấn Độ, các yếu tố gắn bó với tập quán sống và môi trường sống đều được coi là quan trọng, mang tính chất đa năng và đồng nhất với văn hóa. Yếu tố nước như vậy đã tạo thành tính cách của văn hóa kiến trúc Ấn Độ.

Kết luận

Các tôn giáo đều là nguồn gốc tạo nên các biểu hiện của nghệ thuật với mục đích là tỏ lòng thành kính với các vị thần. Các tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất trong kiến trúc Hindu giáo đều thể hiện sự hòa hợp giữ thiêng liêng và trần tục, giữ con người và thần linh.

Đền thờ Hindu phản ánh các lĩnh vực nghệ thuật, các bổn phận, niềm tin, giá trị và cách sống của những người theo đạo Hindu. Đó là sự liên kết giữa con người, thần thánh, và Vũ trụ Purusa.

Cấu trúc “Parama Sayika” ,9×9 (81), được tìm thấy ở hầu hết những ngôi đền Hindu tế lễ rộng lớn. Theo cấu trúc hình học này, mỗi vòng tròn đồng tâm mang 1 ý nghĩa khác nhau. Lớp ngoài cùng, Paisachika tượng trưng cho Asura và cái ác; lớp tiếp theo là Devika tượng trưng cho Deva và cái thiện. Giữa lớp thiện và ác là Munusha tượng trưng cho đời sống con người. Tất cả những lớp đó bao quanh vòng Brahma, tượng trưng cho năng lượng sáng tạo. Trung tâm vòng tròn là Grabhgriya tượng trưng cho nguồn gốc của vạn vật trong vũ trụ.

Trong các văn bản cổ xưa của Ấn Độ, đền là nơi để hành hương – Tirtha. Ngôi đền chứa đựng những giáo lý của đạo Hindu, đồng thời thể hiện toàn bộ những nhân tố tự nhiên giúp tạo ra và duy trì cuộc sống – từ lửa đến nước, từ những hình tượng thiên nhiên đến các vị thần, từ nữ tới nam, âm thanh, mùi vị cho đến hư vô.

Susan Lewandowski nhấn mạnh rằng yếu tố cơ bản trong một đền thờ Hindu được xây dựng trên niềm tin rằng vạn vật đều là một, chúng có sự kết nối với nhau. Một cuộc hành hương được thực hiện trong một không gian theo cấu trúc toán học cấu trúc 64, 81, một tập hợp đầy nghệ thuật của những cột trụ được điêu khắc và những bức tượng được trưng bày và tôn vinh 4 mục tiêu đời sống: Artha (của cải), Kama (Ái dục), Dharma (bổn phận), Moksha (giải thoát).

Ở giữa đền, thông thường là bên dưới hay bên trên và có khi là bên cạnh các vị thần, có một khoảng trống tượng trưng cho Purusa, “nguồn gốc tối cao” (Supreme Principle), đó là vũ trụ linh thiêng, không hình dạng, tượng trưng cho mọi nơi, kết nối mọi thứ, và là bản chất của mọi người. Một ngôi đền có ý nghĩa trong việc giúp những người mộ đạo thấy được bản thân của mình, thanh tẩy tâm trí và hình thành quá trình nhận thức của họ. Các vị thần trong từng ngôi đền khác nhau phản ánh những khía cạnh tinh thần khác nhau. Đó là nơi để những người theo đạo Hindu giải phóng tâm trí của họ và tập trung vào những thế lực tâm linh bên trong ngôi đền.

Theo truyền thống Hindu, không có ranh giới giữa cái phàm và cái thiêng. Chính vì vậy, đền thờ Hindu không chỉ là những nơi linh thiêng mà còn là nơi thế tục. Ngoài cuộc sống tinh thần, ý nghĩa và mục đích đền thờ Hindu còn được thể hiện trong những nghi lễ xã hội và cuộc sống hằng ngày, vì vậy chúng có chức năng xã hôi. Đền còn là nơi để tổ chức lễ hội, những tiết mục nghệ thuật như ca hát, nhảy múa, lễ kết hôn, sinh nhật, tang ma, những sự kiện quan trọng trong đời người. Ngoài ra nó còn là nơi chứng kiến sự kế vị của các triều đại và các vùng lãnh thổ cùng với sự phát triển kinh tế của những triều đại đó.

Những ngôi đền Hindu đóng vai trò hạt nhân trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, nghệ thuật và tri thức trong suốt thời kỳ cổ-trung đại ở Ấn Độ. Burton Stein nói rằng những ngôi đền Nam Ấn nắm giữ chức năng phát triển vùng, như là hệ thống tưới tiêu, khai hoang đất và khắc phục hậu quả sau thiên tai. Những hoạt động này được trả bằng đóng góp của những người mộ đạo. Những ngôi đền này có một lượng lớn tài sản, chúng còn có chức năng như những ngân hàng.

Ngày nay, khi những người di cư và những cư dân Do Thái từ Nam Á xây dựng một đền thờ Hindu, họ cũng đã góp phần tạo dựng một cộng đồng xã hội, giúp làm giảm những định kiến, đồng thời xây dựng quyền công dân cho vùng đất này.Kiến trúc truyền thống Ấn Độ đã để lại nhiều bài học lớn cho thế hệ sau, nhất là các kiến trúc sư đương đại Ấn Độ.

Có nhiều vấn đề đặt ra cho thấy nền kiến trúc cổ đại Ấn Độ có thể tạo tiền đề cho việc tìm ra một cái cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, như vấn đề cộng sinh đa nguyên và vấn đề hình học trong kiến trúc. Việc ứng dụng quan niệm trung tâm và phương hướng, việc gợi lại những triết lý về nước trong đời sống Ấn Độ, việc gợi lại sơ đồ hình học Mandala không chỉ thấy trong nhiều tác phẩm kiến trúc mà còn thấy trong nhiều các mặt bằng đô thị.


Tài liệu tham khảo

  1. Đặng Thái Hoàng 2009: Văn hóa và kiến trúc Phương Đông, NXB Xây dựng
  2. Hồ Anh Thái 2013: Namaska! Xin chào Ấn Độ, NXB Trẻ
  3. https://en.wikipedia.org/wiki/Hindu_temple
  4. https://en.wikipedia.org/wiki/Vesara
  5. https://en.wikipedia.org/wiki/Hindu_temple_architecture#Nagara_architecture
  6. http://ashui.com/mag/tuongtac/nhin-ra-the-gioi/8693-prambanan-di-san-kien-truc-hindu-giao.html
  7. http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=17622
  8. http://www.ancient.eu/Hindu_Architecture/
  9. https://shaktitrails.wordpress.com/2014/12/04/1001-symbol-linga-yoni/
  10. https://www.quora.com/What-is-the-significance-of-the-Gopuram-in-Indian-temples
  11. http://www.templearch.com/vastushastra5.htm
  • *  Câu nói của Karl Marx

[ Sai lầm ] Chương 16 – Hồ sơ bệnh án

.

Buổi tối hôm đó, cô lại tìm Thiền Quyên. Đứng giữa không gian mênh mông sương khói, tối tăm bất tận một mình, cô chợt hoang mang. Lẽ nào phần linh hồn còn sót lại của nàng đã hòa nhập vào cô? Nếu không, vì sao buổi sáng cô lại khóc, khi nhìn lại những ký ức kia. Rõ ràng cô không đau lòng, một chút cũng không, nhưng thân thể lại phản ứng ngược lại.

Cô không hiểu. Chúng làm cô sợ. Cơ thể không nghe theo điều khiển của cô, có lần đầu, thì sẽ có lần sau. Cô không muốn lúc cần thiết lại phải hành động theo tình cảm của nàng. Điều đó rất nguy hiểm.

– Thiền Quyên. Cô ra đây cho tôi. Cô không thể trốn tôi cả đời. Chuyện này chúng ta phải nói rõ ràng với nhau. Cô mau ra đây.

Tiếng hét của cô vang vọng trong không gian, không ai đáp lại, cũng không có âm thanh dội lại. Giống như đá chìm biển rộng. Nhưng lúc cô sắp hết hy vọng thì nàng xuất hiện.

– Tôi muốn lấy lại cơ thể của mình.

Nàng nhìn cô, rất nghiêm túc. Đại tiểu thư, muốn cho thì cho, muốn lấy liền lấy. Cô đột nhiên muốn cười. Cô thật sự cười, trước mặt nàng không cần khách sáo.

– Được. Nhưng cô phải nói cho tôi biết, tôi là ai?

– Không được.

– Vì sao?

– Tôi không muốn.

Đây là lý do quái quỷ gì? Cô muốn chửi thề, nhưng không chửi, dù không cần khách sáo cũng phải có giới hạn. Nhiều khi cô cảm thấy trò chuyện với nàng, như đang trò chuyện với một đứa con nít to xác, hỉ mũi chưa sạch. Rất hao tổn năng lượng và không dinh dưỡng. Cho nên, động khẩu không được thì động thủ.

Cô nắm hai tay nàng vặn ra sau, bắt nàng quỳ xuống. Thứ nàng học cô cũng biết, nếu đánh tay đôi thì không ai thắng, nhưng cô đột ngột ra tay, nàng không đề phòng trước, chắc chắn chịu thua.

– Nói !!! Vì cái gì không cho tôi biết?

-…

– Gia đình cô đã giết tôi đúng không?

– Không phải.

– Vậy vì sao không cho tôi biết?

– Tôi không muốn nói, không muốn nói, không muốn nói…

Nàng khóc nấc lên. Khóc thê thảm không thua những lần bị Nguyễn Khang nhục mạ. Cô buông tay nàng, đứng nhìn nàng khóc, cảm giác bất lực và mệt mỏi ghê gớm.

“Không muốn nói” chứ không phải “Không thể nói”, nghĩa là vấn đề không quá nghiêm trọng, không liên quan đến ai, không phải bí mật kinh thiên động địa, thậm chí cũng chẳng ảnh hưởng đến gia đình nàng, hay bất cứ dòng họ quyền lực nào khác. Cô vẫn có thể biết, nhưng nàng không muốn cho cô biết.

Như vậy, tại sao lại có người xóa sạch thông tin về cô và mẹ trong vụ sập chung cư? Còn cha cô đâu? Sống hay chết? Ở nơi nào? Cô có người thân nào khác không? Bạn bè thì sao?

Cô không biết. Chỉ có một điều khẳng định được. Đây không phải thế giới song song. Cô thật sự tồn tại ở thế giới này. Và giữa biển người mênh mông kia, biết đâu thân nhân của cô vẫn đang sống, cùng cô hít thở một bầu không khí. Những người cùng chung huyết thống có thể đang tìm cô, hoặc đang đau buồn vì hay tin cô chết. Cô có thể còn những người bạn quan tâm lo lắng cho mình…

Cô không đơn độc.

Nghĩ như vậy, cô cảm thấy được an ủi rất nhiều. Thái độ đối với nàng cũng hòa nhã hơn.

– Bỏ đi, không muốn nói thì thôi. Tôi có chuyện khác cần hỏi cô… Cô có thù oán với ai không? Chuyện ở Trung tâm ngoại ngữ mà Âu Dương nói chắc cô cũng biết rồi.

– Tôi không biết. Nếu tôi biết sẽ không để yên. Dám đụng đến con trai tôi.

Nàng nghiến răng nói. Cô thấy cũng phải. Nếu nàng biết đã sớm chạy đến nói cho cô rồi. Thành linh hồn cũng chẳng được thêm năng lực siêu phàm gì, đáng thương.

Sau đó, cũng chẳng còn gì để nói với nàng, cô rời đi.

Sáng chủ nhật, bé Minh học đàn, buổi chiều cô định dẫn thằng nhóc đến trường quay xem biệt đội siêu nhân, nhưng Âu Dương lại báo có công việc đột xuất, bay ra thủ đô Đông Kinh. Y hứa sẽ đền bù gấp đôi, lằng nhằng xin lỗi lại không quên trêu chọc mấy câu. Cô cười hai tiếng cúp điện thoại. Thời tiết hôm đó cũng không đẹp cho lắm, nên hai mẹ con liền nằm nhà xem hoạt hình.

Tối thứ hai, cô nhận được điện thoại của Hữu Triều. Anh báo đã có kết quả kiểm tra sức khỏe, cần gặp cô để thảo luận phương pháp trị liệu. Hiệu suất làm việc của Y quán thật tốt, sớm hơn hai ngày. Cô rất nhanh hẹn sáng thứ ba.

Cô muốn nhớ lại, càng sớm càng tốt. Như vậy cô có thể nhanh chóng biết được người thân ở nơi nào, cho dù không thể nhận, chỉ được nhìn từ xa cũng thỏa mãn.

Hữu Triều thấy cô đến sớm liền cười chào. Cô cũng không giấu sự nôn nóng, hỏi thẳng anh về phương pháp điều trị. Nhưng anh không vội trả lời, nhìn thẳng vào cô một lúc. Vẻ mặt anh nghiêm túc, làm cô cũng có chút căng thẳng.

– Anh đã xem kết quả kiểm tra sức khỏe và hồ sơ bệnh án của em. Không có vấn đề gì khác thường. Nhưng có một chuyện anh muốn hỏi em. Đó là em có thật sự tin tưởng bác sĩ điều trị cho mình hay không?

Ý là cô thật sự tin tưởng anh hay không? Câu hỏi này có vẻ hơi xúc phạm. Nếu cô không tin tưởng anh đã không ngồi đây.

Anh là bạn của Âu Dương, cô rất phân vân chuyện này. Nhưng cuộc trò chuyện với y vào ngày giỗ đã khiến cô liều lĩnh đánh cược, gạt bỏ lý trí, làm theo linh cảm. Cô muốn tin vào ấn tượng đầu tiên khi gặp anh. Sự lương thiện, chân phương, thuần hậu của người bác sĩ tâm lý này không phải là vỏ bọc. Có thể nói, cô đặt hết lòng tin vào anh, giống như anh là chiếc phao cứu mạng.

– Em tin anh.

Cô nhìn thẳng vào mắt anh, khẳng định dứt khoát. Anh gật đầu, có vẻ thả lỏng hơn.

– Anh đã từng gặp em ở nhà riêng của cố giáo sư Hoàng Vũ. Ông ấy là thầy của mẹ anh, cũng là thầy của anh. Khi đó em chừng mười ba mười bốn tuổi, đi cùng với Viễn An. Anh chỉ tình cờ gặp em thoáng qua hai lần, không chào hỏi cũng không tiếp xúc gì.

Cô ngẩn người, trên đầu mọc đầy dấu chấm hỏi.

– Cố giáo sư Hoàng Vũ là bác sĩ tâm lý nổi tiếng nhất nước về phương pháp trị liệu thôi miên. Anh đoán em đã từng trải qua trị liệu tâm lý bằng thôi miên, nhưng hồ sơ bệnh án hoàn toàn không ghi chép lại.

Có nghĩa là cô che giấu thông tin. Nhưng cô cũng hoàn toàn không biết. Thiền Quyên không nói, Viễn An không nói, bất cứ người nào trong nhà cũng không nói.

Cô giật mình. Trị liệu tâm lý bằng thôi miên? Nàng có bệnh tâm thần? Chẳng lẽ đây là lời giải cho vụ đập phá nhà kho lần trước, không ai ngạc nhiên, không ai thắc mắc. Vậy bệnh của nàng nặng đến mức nào? Cô không biết, nhưng chắc chắn người nhà đều biết. Trước lúc chết nàng đã khỏi bệnh hay chưa? Không rõ, chẳng nghe ai nhắc thuốc thang gì. Còn bên ngoài, họ hàng nội ngoại, hai nhà Ngô, Nguyễn? Cô đoán không quá nhiều người biết, nhưng chắc chắn Nguyễn Khang sẽ biết.

Thêm một lý do cho nàng bị loại khỏi danh sách đối tượng kết hôn tiềm năng của hắn từ vòng gửi xe. Ai lại muốn cưới một cô vợ mang mầm mống bệnh tâm thần, còn không biết có di truyền cho con cái hay không?

Nhưng bọn họ vì sao phải giấu cô? Người nhà có lẽ nghĩ cô quên, không quan trọng, không cần nhắc, người ngoài không tiện bàn tới. Còn Thiền Quyên thì sao? Sợ cô không chấp nhận sống thay một kẻ từng mắc bệnh tâm thần? Nguyên nhân này đối với kẻ khác có lẽ hợp lý, nhưng với cô thì bệnh tâm thần tốt hơn chuyện giữa nàng và Nguyễn Khang rất nhiều.

– Em không nhớ.  Người nhà cũng chưa từng nói.

Cô trưng ra vẻ mặt thành thật. Anh gật đồng thông cảm. Tự nhiên nói với một người rằng họ từng bị bệnh tâm thần cũng khó, huống chi là người nhà.

– Bởi vì em từng trị liệu tâm lý bằng thôi miên, cho nên anh cần phải đọc qua hồ sơ bệnh án khi đó, mới có thể tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả nhất. Cho nên bây giờ chưa làm gì được, chỉ có một lọ vitamin cho em, mỗi ngày uống một viên trước khi đi ngủ. Cơ thể của em cần bổ sung một số dưỡng chất.

Anh đưa cô một lọ thuốc nhỏ, có bảy viên con nhộng màu xanh lá cây rất đẹp. Lọ thủy tinh trống trơn, trong suốt, không nhãn hiệu. Nhưng đã nói là tin tưởng bác sĩ, nên cô cũng không thắc mắc.

Buổi khám bệnh trôi qua như vậy, chờ cô đưa hồ sơ bệnh án cho Hữu Triều, lại tính tiếp. Nhưng điều đau đầu là cô không biết làm sao có được hồ sơ bệnh án đó. Tất cả giấy tờ bệnh án của Thiền Quyên đều để chung một chỗ, khá ngăn nắp. Cô đã mang hết cho Hữu Triều. Với tình hình này, cái bệnh án kia đã thất lạc. Cô không thể hỏi Viễn An hay Phượng Nghi, tự nhiên hỏi có thể bị nghi ngờ, chỉ có cách tự tìm.

Nếu tìm không thấy chỉ có cách hỏi người quá cố. Và thật sự cô phải đi hỏi người quá cố vì gần như lật tung căn phòng cũng chẳng thấy tăm hơi hồ sơ. Người quá cố cũng không phải Thiền Quyên. Cô lại trốn vệ sĩ, đi taxi đến nhà cố giáo sư Hoàng Vũ, nghe được một tin rất bi đát. Sau khi giáo sư qua đời, nhà của ông từng bị cháy, sách vỡ hồ sơ đều thành tro.

Trời hại người hiền. Cô rơi vào đường cùng.

Quá không công bằng, cô chỉ muốn dùng thôi miên để lấy lại ký ức, làm một chút việc cỏn con cho bản thân, cũng bị nàng liên lụy ngăn cản. Cơ thể khỏe mạnh, thần trí của cô và nàng lại không dính dáng gì nhau, dĩ nhiên có thể tiến hành điều trị. Nhưng cô không thể nói như vậy với Hữu Triều. Anh sẽ nghĩ rằng cô bị điên nặng.

Tuy nhiên, sự trùng hợp lại khiến bệnh đa nghi của cô tác quái. Hai cái bệnh án, một cái mất, một cái cháy, nàng lại giấu cô chuyện mình bệnh. Nói không có gì mờ ám cũng quá khiêng cưỡng. Nhưng cô chẳng có một chút chứng cứ nào, cũng không có con đường nào để tìm ra sự thật, mà không bứt dây động rừng.

Loay hoay liền đến cuối tuần, chuyện bệnh án khiến cô rầu thúi ruột chưa giải quyết, Âu Dương lại chạy đến làm phiền. Việc này là cô khơi mào trước, cũng chẳng trách y được, ai bảo cô muốn chuộc lỗi với bé Minh hoành tráng làm chi, dẫn thằng nhóc đến khu vui chơi hay mua sắm là được. Nhưng khi nhìn thấy thằng bé cười đến híp mắt, mọi sự phiền não của cô đều tan biến.

Vì là khách mời đặc biệt của Chủ tịch tập đoàn Galaxy, lại được chính Chủ tịch dẫn đường tiếp đón, nên mọi người đối xử với mẹ con cô rất nhiệt tình. Nhưng cô cũng đoán được sau lưng họ bàn tán chuyện gì. Bê bối tình ái ngày xưa quá kinh điển, còn cách đây không lâu. Người ta muốn quên cũng không được. Bây giờ, hai nhân vật chính lại ngang nhiên sánh vai đi trước mặt mọi người, chẳng khác nào thừa nhận sự thật.

Cô cũng không ngại mọi người nhìn, da mặt dày đã hết thuốc chữa, chỉ sợ chuyện bị đăng báo này nọ thì rất phiền, liền nói với Âu Dương.

– Tôi không muốn chuyện hôm nay lại thành đề tài bàn tán của báo lá cải và mạng xã hội.

– Em yên tâm, ở đây không ai muốn tìm đường chết.

Nói đùa hơi quá, nhưng cũng đúng. Hai người ngồi trong đình nghỉ mát, nhìn bé Minh đứng đằng xa cùng nhân viên đoàn phim, trò chuyện với các siêu nhân mình thích.

Trường quay này do Galaxy xây dựng ba năm trước, mang tên Vạn Tinh. Điều đặt biệt là khu dành cho quay phim cổ trang được đầu tư rất công phu hoành tráng. Nhiều công ty khác cũng phải thuê nơi này. Rất nhiều bộ phim cổ trang đã được sản xuất từ đây, làm cho dòng phim này vô cùng phong phú chất lượng, cả thị trường và nghệ thuật, không còn bị phim nước ngoài lấn áp như trước. Một số bộ phim điện ảnh còn giành được giải thưởng quốc tế danh giá.

Có thể nói là đại minh tinh Âu Dương Hạo Nam và tập đoàn Galaxy đã đóng góp rất lớn cho nền nghệ thuật nước nhà.

Thời gian trôi qua rất nhanh. Bé Minh chạy loanh qoanh đến chiều đã mệt. Cô quyết định về nhà nhưng Âu Dương ngăn lại, nói cùng đi ăn. Y đã đặt chỗ còn gọi cho Hữu Triều. Anh đang trên đường đến, vì cả ngày bận việc không đến sớm hơn được. Trong trường quay có một nhà hàng phục vụ theo phong cách cung đình triều Nguyễn, không ghé qua rất tiếc. Cô hỏi bé Minh, nghe nhóc con nói muốn đi, nên đồng ý.

Đến nơi, ba người lại gặp một đoàn phim đang quay, ngoài nhà hàng có rất nhiều phóng viên. Y gọi quản lý đến hỏi, mới biết rằng “Ngọc nữ” Uyển Lan hôm nay về nước, tham gia vai khách mời đặc biệt cho bộ phim này. Một năm trước, Uyển Lan tuyên bố ngừng hoạt động diễn xuất, ra nước ngoài tu nghiệp, vì mang ơn đạo diễn nên mới chấp nhận một vai trong phim. Rất lâu Ngọc nữ không có hoạt động, nên việc nàng về nước đóng phim được nhiều hãng truyền thông chú ý đưa tin.

Cô định qua chào hỏi, dù sao cũng quen biết, nhưng thấy chị đang đóng phim, không tiện làm phiền, đành thôi.

Nói đến Uyển Lan phải nhắc đến Nghiêm Quân, hai người vốn là anh em bà con cô cậu ruột. Mẹ của chị là con gái út của Ngô đại tướng. Bà kết hôn với chính trị gia Hoàng Kỷ Thái, hiện tại là Bí thư thành phố Tây Đô. Mặc dù gia đình chính khách, cha mẹ không muốn con gái theo nghiệp xướng ca, nhưng chị từ nhỏ đã thích sân khấu điện ảnh, nên mọi người đành phải chiều. Chị ký hợp đồng với Galaxy nhận được rất nhiều ưu đãi, vì có thế lực lớn chống lưng. Âu Dương cũng rất ưu ái chị, nên con đường sự nghiệp của Ngọc nữ lên như diều gặp gió, trải đầy hoa hồng.

Thiền Quyên trước kia cũng muốn được như chị, nhưng một kẻ có tiểu sử bê bối làm sao so sánh với Ngọc nữ tài sắc vẹn toàn. Huống chi, thái độ của y lại mờ ám, mọi người đều khuyên can ngăn cản.

Ba người vào chỗ không lâu thì Hữu Triều đến. Cô nhìn thấy anh, có chút mặc cảm, vì nhớ vụ hồ sơ bệnh án, đành phải nói thật.

– Em không tìm được hồ sơ bệnh án. Xin lỗi anh.

– Như vậy thì đành chịu thôi. Anh sẽ tìm cách khác. Em yên tâm uống hết lọ thuốc rồi trở lại kiểm tra sức khỏe lần nữa là được. Đừng lo lắng.

Anh mỉm cười trấn an. Lúc này Âu Dương đã ra ngoài nghe điện thoại. Cô không ngớ ngẩn đến mức để cho y biết mình chữa bệnh. Nhưng bé Minh vẫn ngồi đó, lo lắng hỏi:

– Mẹ bị bệnh gì vậy?

– Mẹ bị nhức đầu. Con đừng nói cho ai biết nha. Mẹ không muốn mọi người lo lắng.

Thằng bé ngoan ngoãn vâng dạ.

Âu Dương trở lại, không bao lâu sau có người gõ cửa. Hữu Triều ra mở liền đứng sửng tại chỗ. Y hỏi hai lần anh mới nghiêng người mời khách vào. Là Ngọc nữ Uyển Lan. Chị cùng với trợ lý đến chào hỏi y. Chị là nghệ sĩ trong Galaxy, dưới quyền của y, phải hiểu chuyện một chút, cho dù gia thế hiển hách ra sao.

– Hai người quen nhau sao?

Âu Dương hỏi thẳng, nhìn Hữu Triều rồi Uyển Lan.  Anh cười cười nói:

– Chúng tôi học chung trường cấp III. Mười năm rồi mới gặp mặt.

– A… Vậy cùng nhau ngồi xuống ăn chung bữa cơm đi. Kỷ niệm mười năm gặp lại.

Y mời Uyển Lan. Chị mỉm cười, uyển chuyển từ chối, nói rằng phải về ăn cơm gia đình, đã hứa với cha mẹ và anh trai, sáng sớm mai phải bay đi rồi.

Giọng nói của chị rất nhẹ nhàng, thái độ vô cùng lịch thiệp tao nhã. Nhìn theo góc độ nào, cũng cảm thấy chị toát ra một loại khí chất băng thanh ngọc khiết, thoát tục bất phàm. Quả là xứng với danh hiệu “Ngọc nữ” của làng giải trí. Thật ra thì Uyển Lan còn một biệt danh nữa, nghe khá kêu là “Thần tiên tỷ tỷ” vì từng đóng một vai cổ trang làm thần tiên, nhân vật nữ chính chỉ mặc váy áo trắng ngần bồng bềnh phiêu diêu.

Cô thấy biệt danh sau cũng không sai, thậm chí mô tả càng giống hơn.

Nghe chị từ chối, y cũng không giữ lại. Uyển Lan chào mọi người. Cô tiễn chị ra cửa. Chị cầm tay cô, mỉm cười thân tình nói:

– Em gửi lời hỏi thăm mọi người giúp chị nha. Lịch học quá gấp, chị cũng không gặp mặt mọi người được. Cảm ơn em rất nhiều.

Uyển Lan đi rồi, không khí trong phòng có chút trầm lặng. Âu Dương cười cười, ánh mắt sắc bén nhìn Hữu Triều.

– Cũng không chỉ đơn giản là bạn cùng trường, đúng không?

Y không buông tha. Anh chỉ có cách bất đắc dĩ cười nói:

– Uyển Lan là mối tình đầu của tôi. Tôi yêu đơn phương, tỏ tình bị từ chối. Sau đó, tôi xuất ngoại cho đến hôm nay mới gặp lại. Thời gian qua cũng không liên lạc gì.

– Không ngờ lúc đó cậu đã trèo cao như vậy. Nhưng lý do bị từ chối là gì?

– Uyển Lan có người mình yêu…

Anh ngừng một chút, nhìn cô nói:

– Người đó là anh Ba của em. Chuyện tình của hai người ấy hiện nay thế nào rồi?

– Không đi đến đâu hết. Anh Ba đã có người yêu lâu rồi. Hai bên gia đình đều biết nhau, đã gặp mặt, có lẽ cũng chấp nhận rồi.

Cô cười cười, lựa lời vắn tắt kể lại. Âu Dương hào hứng nói:

– Cậu có cơ hội rồi đó.

– Cho tôi xin, chuyện qua lâu rồi. Tình chỉ đẹp khi tình dang dở.

Ba người cùng nói sang chuyện khác. Thức ăn cũng được đưa lên.

Chuyện tình tay ba của Uyển Lan, Viễn An và Nghiêm Quân, cô cũng biết chút chút. Chị đơn phương yêu anh Ba của cô, Nghiêm Quân ban đầu cũng vậy, nhưng thủ đoạn theo đuổi của anh đương nhiên cao thâm hơn chị rất nhiều. Cho nên, kết quả như chúng ta đã thấy. Nhưng một năm trước, chị mới biết chuyện này, vì lúc đó hai anh mới công khai, trước kia giấu quá kỹ. Mặc dù Viễn An đã quyết đoán từ chối Uyển Lan từ bảy tám năm trước, lý do có người yêu, nhưng chị vẫn không tin. Cho nên, khi sự thật được phơi ra ánh sáng, chị cảm thấy mình bị phản bội, lòng tin của mình bị chà đạp. Một người là anh họ, một người là bạn thân, người sau mình lại yêu đơn phương nhiều năm, cả ba cùng lớn lên bên nhau, nhưng cái gì mình cũng không biết, thật khó chấp nhận. Thế là chị liền khăn gói lên đường du học.

Cô âm thầm thở dài. Cuộc đời qúa éo le.

Con người phải kiên trì, nhưng trong tình yêu đôi khi phải buông tay. Phụ nữ càng phải biết buông tay. Đừng tưởng cái gì không phải là của mình thì giành riết cũng là của mình. Như vậy là ngu xuẩn chứ không phải mạnh mẽ. Bởi vì cái giá phải trả rất đắc. Đắc đến mức cả tính mạng cũng không còn.

Nhưng câu nói này là dành cho người khác, không phải Ngọc nữ Uyển Lan.