Thông báo lập fanpage “Boy’s Love Research”

https://www.facebook.com/Boys-Love-Research-757549524384911/

Tên fanpage là “Boy’s Love Research”  nhưng vẫn post bài nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác, ví dụ như về LGBT, văn hóa, lịch sử, văn học, tâm lý… không loại trừ những nghiên cứu thuộc các lĩnh vực “dark” như loạn luân, tự tử, thảm sát, giết người hàng loạt…

Mặc dù mình khá lười biếng, nhưng sẽ cố gắng post bài thường xuyên, ít nhất 1 bài 1 ngày. Dù không lên mạng cũng sẽ  “scheduled posts” trước. Chủ yếu là dẫn link đến trang có bài nghiên cứu. Nếu bài ngắn hoặc tự viết sẽ post trực tiếp trên fanpage.

Nói chung, facebook vẫn dễ giao tiếp và cập nhật thông tin nhanh hơn so với wordpress. Hiện nay fanpage vẫn sơ sài nhưng tương lai sẽ phong phú hơn. Hy vọng mọi người hài lòng khi  tham gia  fanpage “Boy’s Love Research”.

Chúc mọi người tuần mới an lành, vui khỏe, thành công.

GloBLisation and Hybridisation: Publishers’ Strategies for Bringing Boys’ Love to the United States

TOÀN CẦU HÓA VÀ TIẾP BIẾN HÓA:
NHỮNG CHIẾN LƯỢC MANG BOYS’LOVE ĐẾN HOA KỲ CỦA CÁC NHÀ XUẤT BẢN

TÁC GIẢ  DRU PAGLIASSOTTI

Người dịch: Trịnh Minh Đỗ Uyên
Lớp: Cao học Văn hóa học K16A

Cảnh báo:  Dịch như google vậy đó, vì bản thân không thích dịch thoát ý. Đảm bảo 60-70% nội dung, vì chỗ nào dịch không được bỏ.

1.Giới thiệu tác giả

Dru Pagliassotti sinh năm 1966, tại Hoa Kỳ. Cô là một giáo sư của khoa Truyền thông thuộc trường Đại học California Lutheran, nơi cô nghiên cứu “Yaoi”, còn gọi là “Boys’ love” (tiểu thuyết, manga, anime, visual novels và doujinshi ) từ Nhật Bản. Cô là đồng tác giả (Antonia Levi, Mark McHarry) của quyển sách nghiên cứu mang tên Boys’ Love Manga: Essays on the Sexual Ambiguity and Cross-Cultural Fandom of the Genre xuất bản năm 2010 bởi NXB McFarland.

Dru Pagliassotti cũng là một tác giả thuộc dòng văn học viễn tưởng và là biên tập viên của tạp chí trực tuyến The Harrow. Từ năm 1998 Pagliassotti đã giữ chức tổng biên tập của The Harrow và chủ sở hữu của The Harrow Press. Cuốn tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên của cô là Clockwork Heart, một cuốn tiểu thuyết giả tưởng vào tháng 4 năm 2008, nhận được đánh giá xuất sắc từ Drew Bittner của SFRevu và Harriet Clausner tại Worlds Alternative.

2. Tóm tắt nghiên cứu

Bài nghiên cứu gồm 10 phần: dẫn nhập, bối cảnh, chiến lược phòng tránh, chiến lực thích ứng, chiến lược tiếp biến, thách thức kinh doanh, tương lai của Boys’ love ở Hoa Kỳ, kết luận, chú thích và phụ lục.

Nghiên cứu giới thiệu hoàn cảnh mà Boys’ love xuất hiện và quá trình phát triển của nó ở thị trường Hoa Kỳ, thông tin khái quát về cuộc khảo sát và những đối tượng tham gia. Sau đó, nghiên cứu tập trung phân tích các chiến lực mà những nhà xuất bản đã sử dụng để đưa Boys’ love đến Hoa Kỳ, bao gồm 3 cách thức: phòng tránh, thích ứng và tiếp biến. Trong đó, việc thay đổi các văn bản, khung ảnh, bìa gốc, lý lịch nhân vật… đều được sử dụng. Sự kết hợp giữa phong cách nghệ thuật Nhật Bản và phương Tây đã tạo ra một sản phẩm gọi là GloBL.

Nghiên cứu cũng quan tâm đến việc xuất bản tiểu thuyết và tạp chí Boys’ love. Mối quan hệ giữa Boys’ love và độc giả, bao gồm người hâm mộ là phụ nữ và những người đồng tính luyến ái nam, đồng thời xem xét ảnh hưởng của người tiêu dùng đối với những chiến lược của các nhà xuất bản, những chuẩn mực xã hội và quy định pháp luật cũng chi phối cách thức mà Boys’ love được giới thiệu ở Hoa Kỳ, xem xét các thách thức mà các nhà xuất bản gặp phải khi kinh doanh manga Boys’ love và dự đoán về sự phát triển trong tương lai của thể loại này.

Nguồn bài nghiên cứu: http://intersections.anu.edu.au/issue20/pagliassotti.htm.

3. Nội dung

Nghiên cứu toàn cầu hóa giải quyết mối quan hệ về quyền lực chính trị và sức mạnh kinh tế xuyên quốc gia, những điều có ảnh hưởng đến sự dịch chuyển của những sản phẩm văn hoá giữa các khu vực, và cách thức mà các sản phẩm này bị chiếm lĩnh và biến đổi bởi những người tiếp nhận khác nhau.[2] Mặc dù nhiều nghiên cứu nổi tiếng về toàn cầu hóa đều tập trung vào dòng chảy một chiều của các sản phẩm văn hóa phương Tây đến các quốc gia khác, nhưng trong thực tế, dòng chảy chưa bao giờ là một chiều. Ví dụ, trong năm 2002, Douglas McGray đặt ra thuật ngữ “chỉ số văn hoá thú vị trong nền kinh tế quốc dân” (gross national cool) để mô tả sự thành công trên diện rộng của Nhật Bản trong việc xuất khẩu văn hóa đại chúng đến nhiều nước khác, [3] cùng năm đó, Koichi Iwabuchi xuất bản một quyển sách phân tích sự lan truyền xuyên quốc gia của văn hóa đại chúng Nhật Bản khắp châu Á. [4]

Một trong những sản phẩm văn hóa xuất khẩu của Nhật Bản đã được phổ biến rộng rãi tại Hoa Kỳ là Manga (truyện tranh Nhật Bản), hay tiểu thuyết đồ họa, hoặc tiểu thuyết bằng tranh Nhật Bản (Japanese graphic novel); Trong năm 2007, việc kinh doanh manga ở Hoa Kỳ đạt 210 triệu Mỹ kim. [5] Sự thành công của manga như một hàng hóa toàn cầu có thể liên quan đến “tính không mùi” (odourlessness) của văn hóa manga. Koichi Iwabuchi lập luận rằng, trong khi một số hàng hóa toàn cầu giữ lại những tính chất có liên quan với quốc gia xuất xứ của chúng một cách tiêu cực, chẳng hạn như sự liên kết của McDonalds với Hoa Kỳ, những thứ khác, trong khi vẫn còn liên hệ với quốc gia xuất xứ của chúng, nhưng vẫn “không mùi” (odourless) về phương diện văn hóa, ví dụ, truyện tranh và phim hoạt hình Nhật Bản không nhất thiết gợi lên sự quan tâm đến “một nền văn hóa hay một quốc gia đặc biệt cụ thể nào đó” [6] Đương nhiên, những sản phẩm văn hóa dễ dàng được đón nhận trong khu vực có những nét văn hóa tương đồng với quốc gia xuất xứ của chúng; Tuy nhiên, trong khi nhiều động thái của việc đọc “từ phải sang trái” (unflopped) [7] manga Nhật Bản, và nội dung nhiều câu chuyện nhắc đến trang phục, thói quen và văn hóa Nhật Bản, có thể làm cho manga khó được đón nhận ở các nước Anglo-Châu Âu, nhân vật truyện tranh vẫn có thể được thể hiện như là đại diện cho một loạt các dân tộc, tùy thuộc vào những xu hướng văn hóa và hình tượng thẩm mỹ của người đọc. [8] Ngoài ra, những chuyển thể từ manga có thể được thực hiện để làm cho chúng phù hợp hơn với một thị trường văn hoá cụ thể.

Một sản phẩm toàn cầu hóa đòi hỏi phải “thích ứng với thị hiếu và phong cách của địa phương” và kéo theo một mức độ hợp tác sản xuất giữa các công ty để chia sẻ rủi ro và cố gắng tối đa hóa lợi nhuận. [9] Một ví dụ về sự thích ứng này, hay sự tiếp biến này (hybridisation), xảy ra trong phiên bản phổ biến ở Hoa Kỳ của The Mighty Morphin Power Rangers bằng cách khắc họa các đặc điểm Hoa Kỳ của những diễn viên, tăng cường sự nổi bật cho các thành viên trong nhóm nữ, và một phiên bản mang phong cách Hoa Kỳ cho tuổi teen. [10] Tương tự như vậy, series (loạt) anime (phim hoạt hình Nhật Bản) Pokémon đã được cắt chỉnh và đóng gói lại cho thị trường Hoa Kỳ bằng cách loại bỏ hoặc sửa đổi các dấu hiệu Nhật Bản và những sự ám chỉ đến cuộc sống và văn hóa Nhật Bản, sửa đổi hoặc loại bỏ nội dung bạo lực hoặc định hướng giới tính. [11] Ngược lại, series anime Sailor Moon ít phổ biến ở Hoa Kỳ, theo Anne Allison, bởi vì nó thiếu “tính tiếp biến” (hybridised) – các nhà sản xuất còn để lại trong đó quá nhiều đặc trưng văn hóa của lối sống Nhật Bản, và thất bại trong việc thích ứng với một loạt cách thức sẽ làm hài lòng những kỳ vọng về giới của Hoa Kỳ về hình tượng một siêu anh hùng là phụ nữ. [12] Nói cách khác, chiến lược “tiếp biến hóa” (hybridisation) đã thành công làm cho Power Rangers và Pokémon trở nên “không mùi” (odourless) về phương diện văn hóa, nhưng lại làm Sailor Moon quá “Nhật Bản” nên dễ dàng bị so sánh và đánh giá bởi khán giả trẻ Hoa Kỳ.

Mặc dù, phần lớn manga có thể “không mùi” về văn hóa, chúng vẫn phải chịu sự tiếp biến khi tham gia vào thị trường toàn cầu. Ví dụ, manga như một tổng thể được nhập khẩu, tiếp thị và đón nhận rất khác nhau ở Hoa Kỳ khi so sánh với ở Nhật Bản – quyết định của các nhà xuất bản Hoa Kỳ nhằm tránh một số chủ đề hoặc điều chỉnh nội dung nhất định sẽ ảnh hưởng đến cách thức mà manga được trình bày và hiểu tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, “manga” như một phong cách đã được tiếp biến bởi các họa sĩ và tác giả không phải người Nhật Bản, những người tạo ra manga riêng cho họ, nhưng kết hợp những phong cách nghệ thuật hoặc hình tượng chủ đề hơi khác biệt – điều này có lẽ là sự hoàn chỉnh của một chu trình, vì chính bản thân Nhật Bản đã được mô tả như là một quốc gia đa dạng (a hybrid nation) [13] và chính manga Nhật Bản đương đại là một sự kết hợp của những kỹ xảo nghệ thuật Nhật Bản và phương Tây. [14]

Một thể loại manga đã tìm thấy thành công tại Hoa Kỳ được gọi là Boys’ love (BL – tình yêu của các chàng trai), một thể loại manga dành cho phụ nữ xoay quanh những câu chuyện tình yêu lãng mạn của người đồng tính luyến ái nam. [15] Trong hầu hết các phần, Boys’love được sáng tác và minh họa bởi phụ nữ cho phụ nữ, với giả định đây là một tập thể độc giả dị tính luyến ái. Boys’ love đã được yêu thích mạnh mẽ khắp châu Á và hiện nay đang nhân rộng sự phổ biến sang các nước Anglo-Châu Âu.

Sự phổ biến của Boys’ love tại Hoa Kỳ có thể do một vài yếu tố. Thứ nhất, về cơ bản Boys’ love là một hình thức của sự lãng mạn, và sự lãng mạn đã được chứng minh là mang tính đại chúng và dễ dàng được hiểu bởi mọi người qua hàng ngàn năm trong việc sáng tác thần thoại và kể chuyện. Độc giả có thể lựa chọn những câu chuyện phù hợp nhất với sở thích của mình, từ những câu chuyện không đi xa hơn một cái nắm tay, đến những câu chuyện thể hiện chi tiết rõ ràng những hành vi tình dục, trong một loạt những bối cảnh khác nhau, từ tuyệt vời đến kinh khủng, hoặc hiện thực sáo mòn. Thứ hai, Boys’ love thu hút một lượng độc giả phương Tây đã có từ trước bởi vì “Slash”, một dạng tiểu thuyết được viết bởi người hâm mộ (fanfiction) dành riêng cho những mối quan hệ đồng tính luyến ái nam. Trong khi, Boys’ love và Slash khác nhau đáng kể ở một vài phương diện, [16] những điểm tương đồng của chúng đã dẫn đến việc đan xen (crossover) trong tập thể độc giả. Thứ ba, Boys’love đã được mô tả bởi một số người hâm mộ là “tốt hơn cả lãng mạn” bằng việc lảng tránh sự xác định căn tính và dán nhãn rập khuôn trên cơ sở giới (gender-based) – một chủ đề đã được thảo luận ở nơi khác. [17] Tuy nhiên, trong khi Boys’ love phổ biến xuyên quốc gia, nó vẫn là một thể loại tương đối mới và khác thường ở Hoa Kỳ. Các nhà xuất bản đã phải đối mặt với những thách thức đặc biệt liên quan đến Boys’ love, điều này làm cho Boys’ love trở thành một ví dụ thú vị về cách thức mà một sản phẩm văn hóa toàn cầu có thể xuất hiện như một “tiếp biến hóa” (hybridisation) trong một khu vực cụ thể.

Bài viết này mô tả các chiến lược phòng tránh, thích ứng và hợp tác sản xuất đã được theo đuổi bởi các nhà xuất bản để đưa manga Boys’ love Nhật Bản vào Hoa Kỳ một cách thành công và lợi nhuận. [18] Trong đó, chiến lược thích ứng của các nhà xuất bản Hoa Kỳ là cố gắng tránh những nội dung nhạy cảm vi phạm các quy định cấp phép (licensing material), hoặc thích ứng với các quy định bằng cách loại bỏ hoặc thay đổi hình ảnh hoặc từ ngữ phản cảm. Trong một số trường hợp, một chiến lược hợp tác sản xuất được theo dõi để kiểm soát tốt hơn các nội dung sẽ phát triển. Ngoài ra, một số nhà xuất bản đã tập trung vào việc sản xuất và phân phối manga Boys’ love không phải Nhật Bản (non-Japanese), những thứ này mang đặc điểm rõ ràng của một thể loại tiếp biến văn hóa, kết hợp giữa phong cách và hình tượng truyện tranh phương Tây với phong cách manga và những quy ước của Boys’ love Nhật Bản.

Tất cả những điều này, được thúc đẩy bởi nhu cầu thực tế hoặc sự nhận thức về những cơ hội trên thị trường kinh doanh, thay đổi thể loại Boys’love để giới hạn nó vào một thị trường khu vực cụ thể. Sự thay đổi này, một dạng “tiếp biến hóa” (hybridisation), xảy ra ở cả hai cấp độ, trên cấp độ lớn nhất của sự hiểu biết và tiếp nhận thể loại, và trên cấp độ cá nhân của sản xuất, vì việc đọc manga tại Hoa Kỳ có thể khác nhau về ý nghĩa văn bản và hình ảnh so với những xuất bản nguyên mẫu tại Nhật Bản. Như vậy, Boys’ love thực sự trở thành một sản phẩm toàn cầu hóa; đó là một hàng hóa phổ biến và tiếp biến về tổng thể, đang tích cực được thay đổi và phát triển, khi nó bị chiếm lĩnh và sửa đổi cho phù hợp với người tiêu dùng trong một thị trường xuyên quốc gia.

Bối cảnh [19]

Manga Boys’ love Nhật Bản – thường được biết đến tại Hoa Kỳ với tên gọi “Yaoi” – thâm nhập vào thị trường đại chúng Hoa Kỳ vào đầu năm 2003 với việc phát hành phổ biến của TokyoPop cho “thiếu niên lớn tuổi” (older-teen) series Boys’ love là Fake và Gravitation bằng tiếng Anh. Boys’ love lan rộng khắp Hoa Kỳ một cách nhanh chóng trong vòng 3 năm tiếp theo, với số lượng lớn các nhà xuất bản chỉ dành riêng cho Boys’ love, hoặc thêm tiêu đề Boys’ love vào dòng sản phẩm (line-up) của họ để gia nhập ngành công nghiệp này. Tuy nhiên, trong năm 2007, Publisher’s Weekly tuyên bố rằng Boys’ love không thích hợp nữa, [20] ngành công nghiệp đã bắt đầu có dấu hiệu của sự căng thẳng. Trong khi một số nhà xuất bản mới bước chân vào thị trường Boys’ love, những người khác dừng xuất bản hoặc hủy bỏ những tựa sách.

Đến giữa năm 2008, các nhà quan sát của ngành công nghiệp này tự hỏi rằng thị trường Boys’ love đã gặp rắc rối chăng. Về mặt tăng trưởng, một tạp chí Yaoi mới với nguyên bản tiếng Anh (OEL) và một hội chợ (convention) Yaoi mới đã bắt đầu, và nhiều công ty đầu tư vào lĩnh vực Boys’ love. Ngược lại, việc đóng cửa, im lặng, sa thải, và cắt giảm đã tấn công các nhà xuất bản Boys’ love khác. Các nhà quan sát kinh doanh suy đoán rằng thị trường Boys’ love đã đầy những tựa sách, vượt quá nhu cầu của người tiêu dùng. [21]

Bắt đầu vào tháng Hai năm 2008, tôi đã đưa ra lời mời tham gia một cuộc khảo sát với 27 câu hỏi đến 10 nhà xuất bản. Vào thời điểm đó, các nhà xuất bản Boys’ love có hoạt động ở Hoa Kỳ là Better with Boys, xuất bản Yaoi Magazine; TokyoPop’s BLU; Boysenberry; Deux; Juné and công ty chị em của nó là 801 Media, cả hai đều thuộc sở hữu của Digital Manga, Inc.; Kitty Media’s BoyBoy; and Yaoi Press. Thư mời cũng được gửi đến Be Beautiful and DramaQueen, cả hai đều đã ngừng xuất bản nhưng không đóng cửa. Thư mời được gửi bằng đường bưu điện và khi có thể, cũng bằng email. Cuộc điều tra được tạo ra bằng cách sử dụng Zoomerang Pro và cung cấp trực tuyến tại MangaResearch.Com. Các nhà xuất bản có thể yêu cầu giữ kín các dữ liệu đã được báo cáo và có thể bỏ qua bất kỳ câu hỏi nào. Một bản sao đầy đủ của phiếu điều tra có thể được tìm thấy trong Phụ lục.

TokyoPop’s BLU (22 tựa sách Boys’love), Juné 801 Media (khoảng 160 tựa sách Boys’ love), Yaoi Press (36 tựa sách Boys’ love), và Better with Boys (hơn 25 tựa sách Boys’love đơn tác giả (single-authored) và Yaoi Magazine) trả lời khảo sát. Câu trả lời cho Juné and 801 Media được cung cấp bởi cùng một đại diện DMP, vì họ được tính là một công ty về mặt giấy tờ. Một số câu trả lời không được công bố trong bài nghiên cứu này để làm mờ danh tính của các nhà xuất bản đã yêu cầu giấu tên.

Boys’ love từ cái nhìn đầu tiên không phải là một thị trường tiềm năng cho một nhà xuất bản Hoa Kỳ nắm bắt. Việc miêu tả gợi dục trong manga Boys’ love có thể gây kinh hoàng trong một nền văn hóa như Hoa Kỳ, nơi vẫn còn quan điểm phổ biến cho rằng truyện tranh là dành cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em trai, [22] và có xu hướng tránh những nội dung tình dục công khai trong dòng truyện tranh chính thống. Tuy nhiên, Boys’ love đã nhận được sự yêu thích bởi một lượng người hâm mộ rộng rãi tại Hoa Kỳ, những người hâm mộ manga và anime đòi hỏi phải có danh sách và quy định riêng dành cho Boys’ love. Lượng người hâm mộ tồn tại từ trước này đã ảnh hưởng đến quyết định gia nhập vào thị trường Boys’ love của các nhà xuất bản.

Các nhà xuất bản lớn, những người trả lời cho cuộc khảo sát này đều tham gia vào thị trường manga trước khi thêm tiêu đề Boys’ love vào dòng sản phẩm của họ. Họ báo cáo rằng, các quan sát của họ cho thấy sự thành công về mặt thương mại của Boys’ love ở những nơi khác, ở Nhật Bản, hoặc đối với những công ty mới ở Hoa Kỳ – là lý do chính để họ mạo hiểm gia nhập vào việc xuất bản Boys’ love. Trong những trường hợp này, mặc dù một số nhân viên trong các nhà xuất bản có thể đã có một hứng thú cá nhân đối với Boys’ love, mối quan tâm chính của công ty vẫn là lợi nhuận thương mại, và các nhà xuất bản lớn này tiếp cận thể loại Boys’love từ điểm nhìn của tập thể công ty.

Các nhà xuất bản nhỏ hơn, những người trả lời khảo sát, mặt khác, viện dẫn sở thích cá nhân đối với Boys’ love như là lý do chính để họ gia nhập vào ngành công nghiệp này. Mặc dù chắc chắn rằng lợi nhuận thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định của họ, các nhà xuất bản tiếp cận thể loại này từ quan điểm của người hâm mộ hoặc người tiêu dùng. Mặc dù có những lý do khác nhau để gia nhập thị trường Boys’ love, các nhà xuất bản đều chia sẻ, ở một mức độ khá lớn, những mối quan tâm tương tự nhau.

David Morley và Kevin Robins mô tả mối quan hệ “toàn cầu – địa phương” như là “mối tương quan giữa động lực toàn cầu hóa và cụ thể hóa trong chiến lược của các công ty toàn cầu”[23] Mặc dù, các nhà xuất bản Boys’ love Hoa Kỳ trong cuộc khảo sát này có thể không phải là một tập đoàn toàn cầu theo cách hiểu rằng họ có văn phòng sản xuất và bán hàng ở một loạt các quốc gia khác nhau, đến mức họ được cấp phép và dịch tác phẩm từ nhiều nguồn quốc tế cho một thị trường xuyên quốc gia nói tiếng Anh, họ vẫn được tham gia vào việc sản xuất và phân phối Boys’ love (hoặc các thể loại manga nói chung) như một hàng hóa toàn cầu hóa.

Tuy nhiên, đây không phải là một thứ hàng hóa toàn cầu vẫn được giữ nguyên mẫu từ Nhật Bản sang Hoa Kỳ; Ngược lại, thể loại Boys’ love được tái bản địa hoá (re-localised) bởi các nhà xuất bản Hoa Kỳ để phản ánh “những đặc trưng về bản sắc và sở thích của cộng đồng địa phương và khu vực”[24] trong trường hợp này, một sự kết hợp của cộng đồng người hâm mộ Boys’ love nói tiếng Anh và cộng đồng Anh ngữ lớn hơn, cộng đồng phương Tây với việc các tổng công ty phải sản xuất, tiếp thị, và bán các tác phẩm của họ. Đó là, khi lựa chọn manga nào sẽ được mua bản quyền (license) và chuyển ngữ, các nhà xuất bản Boys’ love Hoa Kỳ không chỉ phải tính toán đến các nhu cầu của người hâm mộ, mà còn phải quan tâm đến những phong tục xã hội và pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, nơi mà họ hy vọng sẽ bán được sản phẩm. Do đó, các nhà xuất bản hoạt động như những người kiểm duyệt văn hóa, quyết định những sản phẩm sẽ đưa ra thị trường Hoa Kỳ, ở một mức độ nào đó, định hình sự hiểu biết của người tiêu dùng Hoa Kỳ về thể loại này. [25] Nói cách khác, các nhà xuất bản Hoa Kỳ quyết định tái tạo (re-create) thể loại Boys’ love tại Hoa Kỳ không giống với bản gốc, thứ được gọi là thể loại “nguyên mẫu” (authentic) đã phát triển ở Nhật Bản, nhưng đúng hơn là một thể loại “tiếp biến” (hybrid), “đặc biệt” (particularised), “bản địa” (localised) phản ánh pháp luật địa phương, những cấm kỵ xã hội, nhu cầu và sở thích của người hâm mộ địa phương. Các nhà xuất bản lẩn tránh một số nội dung nhất định và thích ứng với các nội dung khác.

Chiến lược phòng tránh

Mặc dù người ta có thể giả định rằng các nhà xuất bản ở Hoa Kỳ sẽ chỉ mua bản quyền các hình thức an toàn và chung nhất của manga Boys’ love, các nhà xuất bản vẫn phải sẵn sàng chấp nhận rủi ro đối với các loại nội dung mà họ mua bản quyền. Bảng 1 cho thấy các đối tượng có khả năng gây tranh cãi đã được xuất bản hoặc có kế hoạch xuất bản trong tương lai gần:

Bảng 1. Những miêu tả gây tranh cãi

Hành động Manga Tiểu thuyết*
Uống rượu khi chưa đủ tuổi hoặc sử dụng ma túy 2 2
Vẽ hoặc mô tả một cách rõ ràng hành vi tình dục giữa những người đàn ông (chứ không phải là bôi đen, che phủ bằng hoa) 2 2
Quan hệ tình dục tàn bạo (S&M hay B&D) 2 1
Quan hệ tình dục không đồng thuận 3 2
Quan hệ tình dục giữa những người thân là nam nhưng không phải là anh em, cha mẹ hoặc con trai 2 1
Quan hệ tình dục giữa những anh em là con riêng trong gia đình cha mẹ tái hôn 1 0
Quan hệ tình dục giữa anh em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha 2 0
Quan hệ tình dục giữa anh em ruột 1 0
Quan hệ tình dục giữa các đối tượng thiếu niên từ 13-17 tuổi 1 1
Quan hệ tình dục giữa các đối tượng 12 tuổi hoặc nhỏ hơn 0 1
Quan hệ tình dục với một đối tượng  động vật hoặc bán động vật (ví dụ, người hóa thú, hồ ly tinh, vv) 1 1
Quan hệ tình dục với một thực thể phi nhân (ác quỷ, thiên thần, ma, yêu tinh, kappa, vv) 3 2
Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh (viết trong phản ứng… **) 1 0

* Một nhà xuất bản báo cáo đơn giản rằng, “không có bất kỳ sự khác biệt nào.”

** Trong quá khứ, điều này đã được cung cấp trong cuộc khảo sát, vì nó không phải là một cặp đôi thường thấy trong Boys’ love.

Ngay cả khi nội dung tiềm ẩn tính bạo lực, các nhà xuất bản vẫn quyết định lựa chọn, nhìn chung một số nội dung được đồng ý giới thiệu ra thị trường Hoa Kỳ vẫn mang nhiều rủi ro hơn phần thưởng.

Một số miêu tả gây tranh cãi liên quan đến yếu tố loạn luân. Cốt truyện loạn luân không phải là hiếm trong manga khiêu dâm của Nhật Bản; Timothy Perper và Martha Cornog viết một loạt bài về điều này, “Cốt truyện không có mối liên hệ với những thực tế loạn luân, nhưng trình bày một góc nhìn thích thú và nhạo báng về những điểm yếu và sức mạnh của ham muốn tình dục… Không ai có thể giữ bàn tay của mình rời khỏi người kia trong những câu chuyện. “[26] Tuy nhiên, các nhà xuất bản Hoa Kỳ được khảo sát đồng ý rằng những câu chuyện thể hiện quan hệ tình dục giữa những người có họ hàng gần đã bị ngăn chặn một cách tốt nhất tại Hoa Kỳ, nơi mà những miêu tả như vậy ít phổ biến, đặc biệt là trong truyện tranh. Một nhà xuất bản báo cáo rằng, họ sẽ không in tác phẩm miêu tả quan hệ tình dục giữa anh em ruột, hoặc anh em cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha. Hai nhà xuất bản báo cáo rằng, họ sẽ không in tác phẩm miêu tả quan hệ tình dục giữa cha và con trai.

Tuy nhiên, vì mong muốn làm hài lòng người hâm mộ của các nhà xuất bản Hoa Kỳ, trong khi việc tránh gây tranh cãi vẫn phải được đảm bảo cân bằng, loạn luân không hoàn toàn tránh được. Ví dụ, Brother được mua bản quyền bởi DramaQueen đã miêu tả sinh động quan hệ tình dục giữa “những anh em là con riêng trong gia đình mà cha mẹ tái hôn” (stepbrothers), và Yamila Abraham chủ sở hữu của Yaoi Press cho biết rằng, sự hứng thú của người hâm mộ đối với cốt truyện loạn luân là một trong những lý do khiến cô quyết định tính đến mối quan hệ loạn luân chú cháu trong Dark Prince, mặc dù có thể bị “ô danh” (scared) khi xuất bản nó. [27] Trong một cuộc trao đổi thông tin riêng với tác giả, Sarah Payne thuộc nhà xuất bản Better with Boys cho biết, “tôi sẽ viết nó, tôi sẽ xuất bản nó… nhưng cần phải có một lý do.” Cả Payne và Abraham đều lưu ý rằng, loạn luân trong Boys’ love hấp dẫn một số độc giả bởi vì nó được thể hiện vô cùng rõ ràng như là một sự tưởng tượng lãng mạn, không phải là sự hình dung về loạn luân trong thế giới thực. Payne chỉ ra rằng, series tiểu thuyết Dollanganger “bán chạy nhất” (bestselling) của Cleo Virginia Andrews, bắt đầu với Flowers in the Attic, như một ví dụ về sự lãng mạn hóa mối quan hệ loạn luân đồng thuận trong dòng tiểu thuyết đại chúng. Loạn luân trong Boys’ love làm cho người hâm mộ tranh cãi vận hành theo cùng một cách. Câu hỏi đặt ra là, vượt qua mức độ nào thì hình ảnh hư cấu được nhìn nhận là sự tưởng tượng hay thực tế, đây là cốt lõi của các cuộc thảo luận gây ảnh hưởng trên nhiều phương tiện truyền thông, đặc biệt là những tranh cãi về khiêu dâm trẻ em “ảo” (virtual). Luật khiêu dâm trẻ em và những điều cấm kỵ đặt thêm thách thức cho các nhà xuất bản Boys’ love.

Shota là một thuật ngữ Nhật Bản thông dụng để chỉ thể loại manga miêu tả nội dung trẻ em nam hay những nhân vật “như trẻ em” (childlike) có quan hệ tình dục với nhau, hoặc với người đàn ông trưởng thành [28] – một hình thức khiêu dâm trẻ em “ảo”. Khiêu dâm trẻ em “ảo” là bất hợp pháp tại Australia và Canada, mặc dù đến nay nó đã được “bảo hộ” (protected) tại Hoa Kỳ. [29] Tuy nhiên, các nhà xuất bản Hoa Kỳ vẫn ngần ngại trong việc mua bản quyền về chúng. Một nhà xuất bản nhận xét, “mặc dù không bất hợp pháp tại Hoa Kỳ, khiêu dâm trẻ em “ảo” vẫn vi phạm ý thức về khuôn phép của công ty chúng tôi. Chúng tôi đã nhận được nhiều yêu cầu của người hâm mộ về những câu chuyện đề cập đến shota, nhưng chúng tôi sẽ không xuất bản chúng hay bất cứ điều gì tương tự như vậy, những thứ khiến chúng ta cảm thấy run sợ”. Một người khác nói, “Shota khẳng định là không thể.”

Như thể hiện trong Bảng 1, khảo sát cho thấy không có câu trả lời nào thể hiện sự quan tâm đến việc xuất bản manga miêu tả quan hệ tình dục với, hoặc giữa các đối tượng 12 tuổi trở xuống, mặc dù một báo cáo xuất bản cho thấy đã có một truyện ngắn hoặc tiểu thuyết, trong đó quá khứ của một nhân vật tiết lộ rằng anh ta đã bị buộc phải quan hệ tình dục không đồng thuận khi còn là một cậu bé.

Một tình huống tương tự xảy ra trong xuất bản phẩm của Be Beautiful [30] là Midaresomenishi: A Legend of Samurai Love, sáng tác bởi họa sĩ manga nổi tiếng Kazuma Kodaka. Trong Midaresomenishi, samurai Shirou bị điều khiển bởi một tướng cướp khi em trai của Shirou là Fujimaru bị giữ làm con tin; trong suốt quá trình này, Fujimaru bị hãm hiếp bởi một vài người lớn. “Lưu ý chung” (disclaimer) của Be Beautiful nhấn mạnh rằng tất cả các nhân vật có quan hệ tình dục đều từ 19 tuổi trở lên – mặc dù Fujimaru xuất hiện có vẻ trẻ hơn nhiều so với tuổi 19 [31] – và các nhà xuất bản đã đi theo một chiến lược thích ứng (được thảo luận dưới đây) nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của hầu hết những “thẩm định” (panel) rắc rối. Hơn nữa, câu chuyện miêu tả hành vi lạm dụng ngược đãi Fujimaru như tội ác bạo lực và không lãng mạn hóa, điều này rất khác biệt với những miêu tả quan hệ tình dục đồng thuận thường thấy trong shota. Lảng tránh bất kỳ dấu hiệu nào thể hiện một cách rõ ràng độ tuổi của các nhân vật là một chiến lược khác được những họa sĩ hoặc nhà xuất bản sử dụng. Yaoi Press báo cáo rằng, trong series Cain của mình, cậu bé bụi đời Vanqisher được mô tả khi còn trẻ nhưng câu chuyện không bao giờ nó rõ về tuổi của cậu ta.

 pagliassotti1

Hình 1. Nhân vật  Vanquisher. Hình ảnh từ Cain, Vol. 2. Copyright © 2008 Yaoi Press LLC. Tác phẩm của Le Peruggine.

Việc tuân thủ các cấm kỵ xã hội không phải là lý do duy nhất làm cho các nhà xuất bản lảng tránh việc xuất bản những tác phẩm miêu tả quan hệ tình dục của vị thành niên. Chừng nào mà khiêu dâm trẻ em “ảo” vẫn là bất hợp pháp ở các nước nói tiếng Anh khác, các nhà xuất bản Hoa Kỳ, người vẫn hy vọng sẽ thu hút thêm nhiều khách hàng sống bên ngoài Hoa Kỳ, không có khả năng dành thời gian và tiền bạc để mua bản quyền và chuyển ngữ những tác phẩm không thể bán trong thị trường thứ hai rộng lớn nhất của họ. Nhu cầu lợi nhuận cũng quan trọng như việc xem xét về đạo đức của cá nhân hay công ty.

Tuy nhiên, như trường hợp loạn luân, một số tựa sách được mua bản quyền thật sự miêu tả tình trạng lãng mạn hoặc quan hệ tình dục giữa các nhân vật vị thành niên và người trưởng thành. Ví dụ, Loveless, được mua bản quyền tại Hoa Kỳ bởi TokyoPop, đã được dán nhãn shota hay “tương tự shota” (shota-like) bởi một số độc giả, bởi vì Soubi Agatsuma (20 tuổi) hôn, đụng chạm và bày tỏ tình yêu của anh ta với “cậu bé mèo” (catboy) Ritsuka Aoyagi (12 tuổi). Trong tuyển tập Boys’ love có tên Wagamana Kitchen, được mua bản quyền bởi June, xuất hiện cảnh hồi tưởng cho thấy một thanh niên không xác định độ tuổi tắm cho một đứa bé, kèm theo dòng chữ: “Khi Takashi còn nhỏ… Chúng tôi đã từng tắm cùng nhau … Bây giờ tôi tin rằng … Lý do những thứ này xảy ra như vậy là vì tôi đã quay trở lại” (lược trích từ bản gốc). Trong cả hai trường hợp, các mối quan hệ giữa người lớn và trẻ em bao gồm tình cảm (intercourse), điều này có thể là lý do tại sao chúng được coi là chấp nhận được, mặc dù tình dục giữa người lớn và trẻ em hiếm khi được đề cập trong truyện tranh không phải manga tại Hoa Kỳ.

Có khả năng rằng, những gợi ý tình dục vị thành niên hoặc nhận thức tình dục dễ dàng được độc giả Hoa Kỳ chấp nhận hơn khi đó là manga, chứ không phải truyện tranh kiểu phương Tây. Họa sĩ Boys’ love Hoa Kỳ Tina Anderson cho rằng độc giả phương Tây có thể thưởng thức shota vì các nhân vật trong manga được vẽ theo phong cách cường điệu, không thực tế, cho nên các trẻ em rõ ràng là tưởng tượng. Tuy nhiên, cô cho biết thêm, “nhiều người sáng tạo và người hâm mộ Shotakon Nhật Bản [bao gồm bản thân tôi trong đó] có một vấn đề thực sự với những nam giới vị thành niên được mô tả trong nghệ thuật khiêu dâm, được vẽ theo phong cách châm chọc của phương Tây. Tại sao? Bởi vì “Shota phương Tây”… quá thực tế, quá giống thật”. [32]

Sự xuất hiện quá trẻ trung của các nhân vật trong manga đặt ra một thách thức về “bất đồng văn hóa” (intercultural) cho việc kinh doanh Boys’ love ở Hoa Kỳ. Ví dụ, TokyoPop đã nhận được rất nhiều yêu cầu của người hâm mộ cho Gravitation Remix, một loại truyện tranh tự xuất bản, hay truyện tranh được sáng tác bởi người hâm mộ dựa trên những nhân vật nguyên mẫu của bộ truyện tranh khác (doujinshi) bởi mangaka (tác giả sáng tác manga) của series Gravitation nổi tiếng, có chứa đựng cảnh quan hệ tình dục giữa các nhân vật nam. Tuy nhiên, “chúng liên quan đến các nhân vật trong giống như vị thành niên cùng yếu tố loạn luân, và những điều này được thể hiện rất rõ ràng”, các nhà xuất bản cho biết. Nhận thức của người đọc ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của thị trường, và những độc giả Hoa Kỳ có thể cảm nhận các nhân vật trong manga không giống như cách mà độc giả Nhật Bản cảm nhận (xem, ví dụ, Chú thích 8).

Các hình thức khác của hành vi tình dục cũng có thể khiến cho các nhà xuất bản gặp rủi ro trên thị trường Hoa Kỳ. Ví dụ, TokyoPop báo cáo trong cuộc khảo sát rằng, ban đầu họ đã miễn cưỡng xuất bản Under Grand Hotel theo yêu cầu của người hâm mộ, mặc dù truyện chứa đựng nội dung “quan hệ tình dục trong nhà giam – một vài cảnh rất bạo lực”, truyện được đều nghị vì tựa đề.

 Mặc dù các nhà xuất bản Boys’ love luôn cẩn thận về sản phẩm mà họ chọn mua bản quyền, một số các nhà xuất bản báo cáo trong cuộc khảo sát rằng, đã nhận được khiếu nại về nội dung các ấn phẩm Boys’ love của họ. Đại diện DMP cho Juné và 801 Media cho biết rằng, đôi khi công ty nhận được tin nhắn từ các cặp cha mẹ có liên quan; công ty trả lời với họ bằng cách giải thích về giới hạn độ tuổi và những nhãn cảnh báo trên từng tuyển tập và mô tả về nhãn hiệu đặc biệt đó. Họ cũng thực hiện các khuyến nghị về các tựa sách phù hợp với lứa tuổi của trẻ em. Người đại diện nói thêm, “cuối cùng, đến các nhà bán lẻ, người bán các quyển sách của chúng tôi cho những người tiêu dùng phải đảm bảo rằng khách hàng 13 tuổi không mua những quyển sách có giới hạn Mature hoặc Adult (sách chỉ dành cho người trưởng thành). Chúng tôi rất công khai và trung thực về nội dung của các quyển sách. Nhưng có quá nhiều thứ đến nỗi mà chúng ta chỉ có thể làm như một nhà xuất bản. Thành thật mà nói, có rất nhiều manga shoujo (truyện tranh Nhật Bản miêu trả tình yêu lãng mạn nam nữ) ngoài kia, những thứ miêu tả rõ ràng hơn rất nhiều so với phần lớn các yaoi chúng tôi xuất bản. Vì vậy, khiếu nại không chỉ giới hạn đối với manga yaoi. Chúng tôi nhận được khiếu nại về những bộ ngực (boobs) và dịch vụ cho người hâm mộ (fan service) [33] trong dòng sách chính thống của chúng tôi”.

Người tiêu dùng không phải là những người duy nhất có khả năng phàn nàn. TokyoPop lưu ý rằng, “Chúng tôi chưa bao giờ có bất kỳ khiếu nại nội dung từ người tiêu dùng, nhưng các nhà bán lẻ đã bày tỏ băn khoăn đến những nội dung về mối quan hệ giữa học sinh và giáo viên”. Như sẽ nhìn thấy trong các phần tiếp theo, ý kiến của các nhà phân phối và bán lẻ được thực hiện nghiêm túc khi nói đến việc kinh doanh manga Boys’love.

Các nhà xuất bản Boys’ love ở Hoa Kỳ, sau đó, đóng vai trò như người kiểm duyệt văn hóa, chỉ lựa chọn mua bản quyền những manga Boys’ love tránh được những cấm kỵ phương Tây mạnh mẽ nhất, do đó, có nhiều khả năng để thành công thương mại ở Hoa Kỳ và ở các nước nói tiếng Anh khác. Các nhà xuất bản xem xét không chỉ các vấn đề pháp lý mà còn về sở thích cá nhân của họ và nhận thức về hứng thú của độc giả. Khi làm như vậy, họ đóng góp vào sự tiếp biến hóa toàn thể của thể loại Boys’ love như một hàng hóa toàn cầu; cho nên, bản thân thể loại đó là một thứ hàng hóa vượt biên giới quốc gia và văn hóa, nhưng có hình thức khác nhau vì nó phải thích nghi với nhu cầu và sở thích của các cộng đồng địa phương khác nhau.

Xa hơn, sự tiếp biến hóa của Boys’ love có thể xảy ra ở mức độ cá nhân khi những từ ngữ hoặc hình ảnh cụ thể bị thay đổi từ bản gốc cho những người thưởng thức địa phương. Quyết định để thích nghi, chứ không chỉ đơn giản là phòng tránh, là một chiến lược tiềm năng hơn đối với những manga có nội dung gây tranh cãi.

Chiến lược thích nghi

Những sản phẩm văn hóa bắt buộc phải thích ứng từ thị trường địa phương này đến thị trường địa phương khác không còn là sự quan sát mới mẻ, và tất nhiên sự dịch chuyển đòi hỏi sự thích nghi. Trong trường hợp của manga, tên cá nhân, những biểu hiện văn hóa cụ thể, phương ngữ, tiếng lóng và tất cả những vấn đề khác đều có thể bị thay đổi trong bản dịch.[34] Nhưng hình ảnh cũng có thể được sửa đổi cho phù hợp. Ví dụ, mức độ ảnh khoả thân và nội dung tình dục có thể chấp nhận ở Nhật Bản đã đặt ra những vấn đề đặc biệt cho các nhà xuất bản manga Hoa Kỳ. Các nhà xuất bản như DC Comics, [35] Del Rey Manga, [36] và Viz [37] đã chỉnh sửa hoặc công bố ý định chỉnh sửa nội dung tình dục hoặc các hình ảnh khác [38] và phải đối mặt với sự phản đối từ các độc giả tiềm năng như một kết quả tất yếu. Sự phản đối này, thỉnh thoảng, thay đổi suy nghĩ của các nhà xuất bản.

Tuy nhiên, bất chấp khả năng tranh cãi, nếu người hâm mộ yêu cầu một tác phẩm có khả năng gặp vấn đề và tác phẩm này có thể thành công cao về thương mại, các nhà xuất bản vẫn có thể mua bản quyền và làm cho nó thích ứng, dù thế nào đi nữa.

Bảng 2. Sự thích ứng các nhà xuất bản được khảo sát cho biết về cách thức làm cho các  manga Boys’ love có thể xuất bản tại Hoa Kỳ

Thay đổi Của nhà xuất bản
Thêm lưu ý chung giải thích rằng tất cả các nhân vật tham gia vào quan hệ tình dục đều từ 18 tuổi trở lên 1

 

Thay đổi trang bìa gốc, hoặc loại bỏ nó hoàn toàn hoặc tái tạo nó bên trong và sử dụng một hình ảnh ít gây tranh cãi hoặc rõ ràng cho trang bìa 2
Loại bỏ một minh họa 2
Thay đổi các từ ngữ hoặc các tình huống nhất định 1

Ví dụ, trong năm 2004, người hâm mộ phản đối khi Be Beautiful loại bỏ một số khung hình trong tập 1 của Kizuna, miêu tả cậu học sinh tiểu học Kai hôn lên môi người đàn ông trẻ tên Masa, một người lính “yakuza” (xã hội đen Nhật Bản). Mặc dù Be Beautiful không trả lời cuộc khảo sát này, có vẻ hợp lý khi suy đoán rằng mối quan tâm về những điều cấm kỵ tuổi tác thúc đẩy sự sửa đổi, đặc biệt vì Kai và Masa sau đó trở thành người yêu khi trưởng thành hơn trong series này. Be Beautiful thực hiện một sự sửa đổi tinh tế hơn trong Midaresomenishi: A Legend of Samurai Love, bằng cách đặt một khung thoại lên thân mình của Fujimaru lúc trẻ, cậu đang bị tấn công bởi ba người đàn ông trưởng thành trong khung hình; sự thích ứng này dường như không gây phản đối (xem Chú thích 31).

Không ngạc nhiên, trong cuộc thảo luận trước về các chiến lược phòng tránh, một số nhà xuất bản báo cáo rằng, họ đã làm cho thị trường Hoa Kỳ liên quan (involve) với những hình ảnh hoặc độ tuổi của các nhân vật quá trẻ. Ví dụ, Yaoi Press cho biết, họ tái bản một trong những tiểu thuyết đồ họa Boys’ love của mình với một câu chuyện thay thế, vì một số nhân vật thanh niên trẻ tuổi có thể bị phản đối, và trong câu chuyện khác họ đã loại bỏ một minh họa cho thấy một cậu bé trai rất nhỏ leo ra khỏi bồn tắm. TokyoPop báo cáo rằng, trong một vài cuốn sách đầu tiên, họ đã loại bỏ sự ám chỉ về độ tuổi của một nhân vật trẻ khi mang vào các cuộc trò chuyện bình thường, mặc dù họ không thay đổi những liên quan tuổi tác của nhân vật khi độ tuổi đã được chỉ định rõ ràng hơn trong văn bản.

Ảnh bìa thỉnh thoảng đặt thêm vấn đề cho các nhà xuất bản; đôi khi bìa gốc tiếng Nhật quá rõ ràng đối với các nhà phân phối và bán lẻ tại Hoa Kỳ, nhưng ảnh bìa là một điểm quan trọng trong việc bán hàng cho tuyển tập, đặc biệt là nếu quyển sách đã được thu nhỏ và đóng gói (shrink-wrapped). DMP/Juné báo cáo rằng các tiêu đề ban đầu của một trong những ấn phẩm của mình, A.N.A.L., gây lo âu cho các nhà bán lẻ: “vì vậy chúng tôi đã phải thay đổi tên cho All Nippon Airlines: Paradise tại 3.000 Feetand, chúng tôi thay đổi ảnh bìa để loại bỏ ANAL từ cánh của chiếc máy bay… Tuy nhiên, chúng tôi in bìa thực của ‘ANAL’ thật rực rỡ và làm nó có giá trị đối với khách hàng. Họ có thể mua nó từ chúng tôi tại một hội chợ hoặc gửi cho chúng tôi 3 chiếc tem và chúng tôi sẽ gửi nó cho họ”.

Độc giả tinh mắt vẫn có thể phân biệt các từ viết tắt trên trang bìa, vì các chữ cái đầu tiên của mỗi từ trong tên của hãng hàng không được nhấn mạnh. Sự lựa chọn thay đổi ảnh bìa được công khai cho người tiêu dùng biết về lý do đằng sau của sự thay đổi và đưa ra một cơ hội để có được bản gốc dường như thỏa mãn được độc giả.

Tương tự như vậy, TokyoPop thay đổi bìa gốc của Man’s Best Friend bằng cách “chuyển đổi hình ảnh của một người đàn ông trong bộ bikini cùng một khẩu súng lục trên đáy quần của anh ta với một trang ảnh đầy màu sắc khác, đây là một lựa chọn an toàn hơn cho ảnh bìa. Trang bìa gốc đã được sao chép vào bên trong”. Một lần nữa, quyết định này đã không được giữ bí mật; ở bảng điều khiển của nhà xuất bản tại Yaoi-Con, người đại diện của TokyoPop công khai nói về sự lựa chọn này, trước tiếng phàn nàn và cười đùa của người tham dự.


page

Hình 2. Ảnh bìa mới cho Man’s Best Friend đã được tạo ra cho thị trường Hoa Kỳ từ hình vẽ nội bộ được tìm thấy trong các phiên bản gốc tiếng Nhật; hình ảnh ban đầu của trang bìa từ Nhật Bản đã được sao chép vào bên trong của tuyển tập tiếng Anh. Hình ảnh lịch sự của TokyoPop. INU MO ARUKEBA FALLIN LOVE © Kazusa Takashima 2004. Nguyên gốc xuất bản tại Nhật Bản vào năm 2004. Quyền bản dịch tiếng Anh với Libre Publishing Co., Ltd.

Tuy nhiên, không phải tất cả sự thích nghi bắt nguồn từ các nhà xuất bản ở Hoa Kỳ hoặc liên quan đến bối cảnh tình dục. TokyoPop đã báo cáo rằng Biblos/Libre (nhà xuất bản gốc tiếng Nhật) đã gợi ý hoặc yêu cầu chúng tôi xóa đi biểu tượng “chữ Vạn” (swastika) trên trang phục của một nhân vật ăn mặc như quân nhân Đức Quốc xã, vì họ đã gặp phải vấn đề với điều đó trong quá khứ liên quan đến việc cấp phép”. [ 39] Better with Boys cho biết rằng, “chúng tôi vừa xuất bản một mini-manga gồm có một người múa thoát y mặc trang phục con mèo, ban đầu, người múa thoát y này là một cậu bé mèo mang hình dáng con người; tuy nhiên họa sĩ đã thỏa hiệp, vẫn bao gồm các khía cạnh mèo nhưng để cho nhân vật hoàn toàn là con người”. Chủ sở hữu Payne của BWB giải thích rằng, cô không muốn xúc phạm bất kỳ độc giả phương Tây nào, người có thể liên hệ “các cậu bé mèo” (cat-boys) với thú tính.

Một chiến lược thích ứng mà các nhà xuất bản Boys’ love có thể theo đuổi là hạn chế sự truy cập của độc giả đối với manga có những hình ảnh rõ ràng. Thu nhỏ và đóng gói (shrink-wrapping) các tuyển tập, những thứ chứa đựng nhiều hình ảnh đặc biệt bạo lực hay tình dục là một quy trình chuẩn tại Hoa Kỳ để ngăn chặn trẻ em nhìn thấy các tài liệu tiềm ẩn nguy hiểm. Mặc dù nhiều cửa hàng ở Hoa Kỳ đã dành những kệ riêng cho các tạp chí người lớn hay tiểu thuyết khiêu dâm, khá ít nơi dành kệ riêng cho manga người lớn. Kết quả là, thu nhỏ và đóng gói thực hiện vai trò như một thỏa hiệp, khuyến khích các nhà bán lẻ đặt manga hay tiểu thuyết dành cho người lớn bên cạnh các tài liệu của trẻ em chứ không phải cô lập chúng trong một khu vực khó tiếp cận hoặc kém hấp dẫn ở các cửa hàng. Tựa sách Boys’ love là những manga đầu tiên được thu nhỏ và đóng gói trong các chuỗi cửa hàng sách lớn ở Hoa Kỳ, mặc dù nhiều yêu cầu phải tuân theo khi các nhà xuất bản tăng số lượng các tựa sách chứa dựng nội dung bạo lực hay đa dạng tình dục (heterosexually) quá rõ ràng mà họ cung cấp.

Mặc dù là một cách thích nghi ít gây tranh cãi hơn việc thực sự sửa đổi văn bản hoặc hình ảnh, thu nhỏ và đóng gói vẫn thay đổi cách thức mà Boys’ love được đón nhận tại Hoa Kỳ; Điều này biểu thị rõ ràng [40] rằng có những nội dung không thể chấp nhận được về mặt xã hội theo cách nào đó, làm cho thể loại này tiềm ẩn tính bất hợp pháp, thứ có thể không xảy ra đối với Boys’ love ở Nhật Bản.

Tương tự như vậy, Yaoi Magazine khẳng định trên trang web của mình rằng, họ gửi “từng tạp chí trong một phong bì mộc mạc được đánh dấu đơn giản là Y.M./BWBP trên phần ghi địa chỉ phản hồi”. Chiến lược “đơn giản bìa” (plain-cover) có chức năng giống như thu nhỏ và đóng gói, bởi vì nó gợi ý cho người tiêu dùng rằng Boys’ love có thể gặp ngăn trở trong quá trình chuyển phát; có lẽ vài thứ nên bị che giấu khỏi những nhân viên bưu điện, bạn cùng phòng, hoặc đồng nghiệp.

Cả hai cách thu nhỏ và đóng gói hoặc gửi đi dưới hình thức đơn giản bìa quyết định rằng, mặc dù có thể cần thiết cho việc phân phối thành công các sản phẩm, nhưng việc này đã thay đổi ý nghĩa của thể loại Boys’ love bằng cách thay đổi phương pháp mà Boys’love được tiếp nhận ở Hoa Kỳ so với ở Nhật. Các sản phẩm Boys’ love được giới hạn ở độ tuổi trưởng thành (Adult-rated) bị quy định bởi nhiều chiến lược khác biệt, cũng có khả năng gây nguy hiểm hay không đứng đắn, và người tiêu dùng, những người chọn mua tuyển tập đã thu nhỏ và đóng gói bằng tiền mặt hoặc nhận phong bì đơn giản được chuyển phát, có nhiều khả năng để làm như vậy với một nhận thức về việc họ đang tham gia vào một thứ bị hạn chế, có thể bị kỳ thị trong xã hội.

Trọng tâm của bài viết này là manga Boys’ love; Tuy nhiên, một số các nhà xuất bản được khảo sát đã bắt đầu mua bản quyền các tiểu thuyết Boys’ love, cũng như, Yaoi Magazine kết hợp giữa manga gốc và truyện ngắn. Nhìn chung, mặc dù Boys’ love được biết đến nhiều nhất tại Hoa Kỳ trong hình thức manga, một số nhà xuất bản đã bắt đầu mua bản quyền tiểu thuyết Boys’ love, và Yaoi Magazine kết hợp manga và truyện ngắn. Nói chung, các chiến lược phòng tránh và thích nghi đã được áp dụng đối với manga Boys’ love cũng đang được áp dụng cho tiểu thuyết Boys’ love. Hai nhà xuất bản chỉ ra trong cuộc khảo sát rằng, không có bất kỳ sự khác biệt nào giữa nội dung có thể chấp nhận và không thể chấp nhận trong manga và tiểu thuyết, nhưng một nhà xuất bản nói thêm rằng, văn xuôi được đối xử khoan dung hơn theo luật pháp của Hoa Kỳ: “Khi bạn thêm những hình ảnh, bạn bắt đầu đi vào vấn đề có hay không thứ gì đó có thể bị phân loại là nội dung khiêu dâm hoặc văn học. Tất cả các tác phẩm được viết trên văn bản được xem xét như là tác phẩm có giá trị văn học và do đó không phải là khiêu dâm “. [41] Một nhà xuất bản khác lưu ý rằng, văn xuôi có thể bao gồm quan hệ tình dục tuổi vị thành niên trong một câu chuyện, nếu có liên quan đến cốt truyện, trong khi điều này sẽ không được xuất bản trong manga. Tokyopop đã viết, “Tôi đoán trên mặt lý thuyết, những tiểu thuyết có thể rõ ràng hơn, nhưng tôi nghĩ rằng trên thực tế chúng tôi đã sai lầm khi nghiêng về phía thận trọng, bởi vì có chút khác thường khi thu nhỏ và đóng gói cũng như đặt giới hạn tuổi cho một quyển sách văn học”. Tuy nhiên, tiểu thuyết Boys’ love S Vol. 1 của Juné đã được tìm thấy bị thu nhỏ và đóng gói trong khung viền, do những ảnh minh họa tình dục rõ ràng ở bên trong. Bảng 1 cho thấy một số khác biệt giữa những gì đã được xuất bản trong manga Boys’ love và tiểu thuyết Boys’ love.

Chiến lược tiếp biến

Boys’ love có thể được mô tả như là một thể loại “tiếp biến” (hybridised) đến mức nó đã được thích nghi từ bối cảnh văn hóa này đến bối cảnh văn hóa khác theo những cách thức hợp lý rất địa phương và cụ thể. Quyết định tránh xuất bản một số dạng Boys’ love nghĩa là, thể loại này như một toàn thể được hiểu và đón nhận một cách khác nhau từ thị trường này đến thị trường khác, và quyết định làm cho các văn bản hay hình ảnh của những tuyển tập đặc biệt phù hợp hơn cũng phục vụ cho việc biến những tuyển tập này thành các ấn phẩm tiếp biến, thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của một địa phương cụ thể. Ở mức độ nào đó, cả hai chiến lược phòng tránh và thích nghi được mô tả ở trên có thể được xem là chiến lược tiếp biến.

Tuy nhiên, có một phương pháp quan trọng, cách mà Boys’ love đang được tiếp biến, và đó là việc thể loại này bị chiếm hữu và tái diễn giải bởi các họa sĩ không phải người Nhật, những người tái sản xuất nó trong một hình thức kết hợp giữa những phong cách văn hóa và cách hiểu khác nhau. Họa sĩ và tác giả Boys’ love Tina Anderson đặt ra thuật ngữ “GloBL” để khuyến khích sự hiểu biết về Boys’ love vượt qua nguồn gốc Nhật Bản của thể loại này. GloBL là một thuật ngữ đặc biệt hữu dụng khi xem xét manga Boys’ love như một hình thức nghệ thuật và truyện kể được tiếp biến.

Thuật ngữ “tiếp biến” (hybrid) được tăng sức nặng bằng những ý nghĩa lý luận và đánh giá giá trị. [42] Một hoàn cảnh, nghi lễ hay hàng hóa tiếp biến có thể được xem như một định vị cho việc bảo tồn, hoặc tái xây dựng bản sắc văn hóa, hoặc là một tác phẩm cắt ghép văn hóa tạo điều kiện cho kinh tế toàn cầu hóa . Trong ý nghĩa thứ hai, “Sự tiếp biến, không chỉ tuân theo toàn cầu hóa. Đó là logic văn hóa của toàn cầu hóa”[43] Bởi vì việc chấp nhận và sao chép manga của các họa sĩ bên ngoài Nhật Bản là kết quả của sự đánh giá cao văn hóa hơn là sự kháng cự văn hóa, điều này là cách hiểu thứ hai của sự tiếp biến, như tác phẩm cắt ghép, điều đó có vẻ phù hợp nhất khi xem xét GloBL. Tuy nhiên, việc này không đề xuất rằng, bất kỳ sản phẩm văn hóa tiếp biến nào cũng ưu thế hơn “nguyên mẫu” (authentic); Các nhà xuất bản Hoa Kỳ, ví dụ, đã nhận ra những thách thức để đạt được sự chấp nhận cho manga nguyên bản tiếng Anh (OEL), vì nhiều độc giả thích đọc bản dịch từ manga “nguyên mẫu” Nhật Bản.

Hai trong số các nhà xuất bản tham gia vào cuộc khảo sát chuyên về Boys’ love “không Nhật Bản” (non-Japanese) là Yaoi Press và Better with Boys. Ngoài ra, DMP, công ty mẹ của Juné, xuất bản một hình thức tiếp biến của manga được gọi là manga Nhật Bản gốc tiếng Anh, hoặc JOEL.

JOEL tương tự như Boys’ love Nhật Bản truyền thống ở hầu hết các khía cạnh. Sự khác biệt trung tâm, June giải thích, đó là trong JOEL, “manga được tạo ra bởi công ty chúng tôi dành cho độc giả Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi vẫn sử dụng các họa sĩ Nhật Bản”. Đây là loại văn hóa đồng sản xuất được mô tả bởi Kraidy như một chiến lược của công ty để giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận tiềm năng, đối với một sản phẩm toàn cầu hóa. [44] Chiến lược JOEL mang đến cho Juné các lợi thế trong việc sở hữu tác phẩm của một họa sĩ và tăng cường sự kiểm soát về nội dung và hướng phát triển của tác phẩm, điều này khá quan trọng khi lập kế hoạch cho một chiến dịch kinh doanh. Nếu không, những bất ngờ có thể xảy ra. Ví dụ, Juné đã mô tả trong cuộc khảo sát về một trong những kinh nghiệm của họ với một tựa sách đã mua bản quyền vẫn đang được sáng tạo tại Nhật Bản: “[Our Kingdom] Khởi đầu từ một quyển sách được xếp loại Young Adult (dành cho người từ 13 tuổi trở lên). Nhưng từ tập thứ 5, chúng tôi đã phải thay đổi về xếp loại thành Mature (dành cho người từ 17 tuổi trở lên). Bây giờ chúng tôi đang móc hai ngón tay vào nhau (làm dấu thánh giá) để cầu nguyện là các tập tiếp theo không vượt quá tầm kiểm soát! Với các sản phẩm của chúng tôi, chúng tôi có thể xác định giới hạn độ tuổi từ trước và chắc chắn rằng những câu chuyện vẫn nằm trong phạm vi đó”

Chiến lược của Juné trong việc đặt hàng manga Boys’ love nguyên bản trực tiếp từ một họa sĩ Nhật Bản giúp giảm thiểu rủi ro của việc sản xuất và kinh doanh; Tuy nhiên, trong khi nó là một ví dụ về hợp tác sản xuất qua lại giữa các quốc gia, JOEL chỉ một sự tiếp biến theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ; có rất ít dấu hiệu của đa văn hóa được quan sát trong văn bản. Henry Jenkins mô tả những sản phẩm giống nhau là kết quả của tiếp biến kinh doanh – “một chiến lược doanh nghiệp, đến từ vị thế của sức mạnh hơn là dễ bị tổn thương hoặc bên lề, trong đó tìm cách kiểm soát hơn là bao hàm sự tiêu thụ xuyên văn hóa”. [45] JOEL vẫn giữ được “tính nguyên mẫu” (authenticity) của manga Boys’ love Nhật Bản nhưng được tạo ra một cách cụ thể cho thị trường Hoa Kỳ.

Manga nguyên bản được sáng tạo bởi họa sĩ phương Tây hoặc được đào tạo ở phương Tây, mặt khác, có xu hướng kết hợp phong cách nghệ thuật manga với các tiêu chuẩn của phương Tây về bố cục và cốt truyện để tạo ra một tác phẩm cắt ghép văn hóa có thể nhận biết trực tiếp. Abraham của Yaoi Press nói rằng, manga phương Tây sử dụng nhiều văn bản hơn trong khung thoại và cung cấp những bảng vẽ chi tiết làm cho các trang giấy còn ít khoản trống. Manga Nhật Bản được dự định để đọc một cách thật nhanh chóng, trong khi manga phương Tây, “chúng tôi cố gắng tận dụng toàn bộ trang giấy với hình vẽ và câu chuyện nhằm đem lại cho độc giả 60 đến 90 phút giá trị để đọc khoảng 152 trang tiểu thuyết đồ họa”, Abraham nói: “Mặc dù quyển tiểu thuyết đồ họa OEL được lưu ý với phong cách manga (đặt nặng tầm quan trọng về vẻ đẹp của các nhân vật, dựa nhiều hơn vào “screentones” (những tấm giấy hoa văn tạo hiệu ứng phong nền cho truyện tranh) so với việc đánh bóng bằng mực in, cũng như nhiều khác biệt tinh tế khác) các dòng và cách đọc trang cũng khác nhau”.

Anderson nhấn mạnh rằng, sự khác biệt giữa manga Boys’ love Nhật Bản và phương Tây có thể được tìm thấy trong những cảnh quan hệ tình dục. Cô quan sát thấy, các họa sĩ Boys’ love phương Tây có nhiều khả năng miêu tả một cách rõ ràng các hành vi tình dục cùng cơ quan sinh dục và tránh quy ước về “seme X uke” của Nhật Bản [46] (seme là người chiếm ưu thế “top” và uke là người bị động “bottom”; quy ước này có thể bị xuyên tạc để cung cấp động lực và hài hước cho nhân vật). Tương tự như vậy, Payne, của Better with Boys, cho biết rằng, trong tiểu thuyết Boys’ love nguyên bản tiếng Anh của mình, cô cố gắng tránh những khuôn sáo Nhật Bản về một uke miễn cưỡng tình dục và thích viết về những nhân vật chấp nhận và tận hưởng với việc trở thành đồng tính. [47]

pagliassotti5

Hình 3. Manga phương Tây kết hợp phong cách nghệ thuật và bố cục của phương Tây và Nhật Bản để tạo ra một tác phẩm tiếp biến, như đã thấy trong bảng này từ Winter Demon, Vol. 3. Bản quyền © 2008 Yaoi Press LLC. Tác phẩm của Le Peruggine.

Nỗ lực của một số họa sĩ để hòa hợp manga với phong cách đồ họa và các quy tắc cốt truyện không phải Nhật Bản đã làm gia tăng những tranh cãi quen thuộc trong xã hội chống lại sự tiếp biến hóa, một số độc giả từ chối mua bất cứ thứ gì khác với “nguyên mẫu” manga Nhật Bản. “Một số người không tin rằng, manga vẫn còn là “manga” nếu như nó không được sáng tạo tại Nhật Bản”, ghi nhận của một nhà xuất bản tham gia với cuộc khảo sát. Yaoi Press đã dựa vào chiến lược xuất bản trong việc tìm kiếm những họa sĩ Boys’ love nổi tiếng bên ngoài Nhật Bản, chẳng hạn như các studio nghệ thuật Tây Ban Nha Kosen, nhóm họa sĩ người Ý Dany & Dany, họa sĩ người Pháp M.A. Sambre, họa sĩ Indonesia Rhea Silvan, và họa sĩ người Brazil Amelia Woo. Better with Boys báo cáo rằng, việc tìm kiếm các nghệ sĩ địa phương có chất lượng cao và các tác giả cho Yaoi Magazine là một thách thức, vì cộng đồng Boys’ love gốc tiếng Anh vẫn còn đang phát triển.

Các phê phán sự tiếp biến hóa nhấn mạnh vào những hệ quả chính trị của việc chiếm lĩnh những truyền thống, phong cách, hoặc tài nguyên văn hóa của một quốc gia bởi một quốc gia khác, trong nhiều trường hợp sự lai tạo được mô tả như là một sự kết hợp thương mại đã lược bỏ những bất bình đẳng về chính trị hoặc kinh tế giữa hai nền văn hóa. [48] Tuy nhiên, Nhật Bản không phải là một quốc gia đang phát triển. Nhật Bản đã tham gia vào cuộc giao lưu văn hóa với các nước phương Tây trong nhiều thập kỷ, gần đây lại có được một mức độ độc đáo về chỉ số văn hóa thú vị (cultural cool) [49] và một đồng tiền mạnh được tăng cường, đã làm cho Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc đứng đầu thế giới. Như vậy, khó có thể nói rằng GloBL khai thác sự bất bình đẳng về chính trị hay kinh tế, và khiến cho những người sáng tạo nguyên bản tiếng Nhật của manga Boys’ love trở nên vô hình. Chắc chắn, các nhà xuất bản GloBL có lợi ích kinh tế trong việc chiếm lĩnh và kinh doanh manga Boys’ love, thứ được tạo ra bên ngoài Nhật Bản; Boys’ love là một mặt hàng trong ngành công nghiệp văn hóa đã và đang được đồng hóa và thích nghi ở các nền văn hóa khác nhau trong nhiều trường hợp – mặc dù không phải lúc nào cũng thế [50] – với một khuôn khổ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, cùng lúc đó phải thừa nhận rằng các nhà xuất bản Boys’ love nhỏ hơn tại Hoa Kỳ, ít nhất là trong cuộc phỏng vấn này, lấy cảm hứng kinh doanh chủ yếu không liên quan đến GloBL vì họ là người hâm mộ của Boys’ love. William W. Kelly lưu ý rằng, “người hâm mộ là những người chiếm hữu tích cực nhất và cũng là những nhà sản xuất ngang ngược nhất trong số người tiêu dùng”[51] và sự “phát triển địa phương hóa” (locally-developed) Boys’ love là một phần của văn hóa người hâm mộ; một hành động tham gia và tán thưởng đối với thể loại này. Khi các họa sĩ và nhà xuất bản Boys’ love bước chân vào thế giới thương mại của hoạt dộng sản xuất và phân phối, họ trở thành những ví dụ về những gì Jenkins gọi là “nền tảng hội tụ” (grassroots convergence), hay sự chuyển động từ dưới lên, trong đó người tiêu dùng ảnh hưởng và thậm chí tham gia vào một ngành công nghiệp, thứ đã từng bị thống trị bởi các tập đoàn truyền thông lớn. [52] Sức mạnh liên kết giữa Boys’ love (nguyên mẫu) Nhật Bản và Boys’ love được tiếp biến có thể bị làm cho phức tạp bởi đám đông người hâm mộ theo một cách mà sự phê phán tiếp biến không thừa nhận; cả người hâm mộ và các tổ chức đều chiếm lĩnh và sản xuất, nhưng người hâm mộ đồng thời yêu thương và đạt lợi ích. Câu hỏi này có lẽ tùy thuộc vào các giá trị ưu tiên, của người hâm mộ hay của các công ty, khi GloBL thương mại vẫn tiếp tục phát triển.

Thách thức kinh doanh

Cộng đồng Anh ngữ phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ và vương quốc Anh, đã có truyền thống mạnh mẽ của riêng mình về các sản phẩm khiêu dâm nam/nam được sáng tác bởi phụ nữ từ những năm 1970 dưới hình thức tiểu loại của fanficton gọi là “slash” (dấu gạch chéo). Tuy nhiên, trong khi slash có xu hướng vẫn giữ nguyên tình trạng bí mật do những lo ngại về vi phạm bản quyền, [53] Boys’ love có thể được tìm thấy trên kệ của các nhà sách, và việc giải thích về thể loại của sách cho các nhà phân phối, nhà bán lẻ và người tiêu dùng đặt ra một thách thức đối với các nhà xuất bản. Một số nhà xuất bản lưu ý rằng, các nhà bán lẻ và các phương tiện truyền thông đã có một thời gian khó khăn để hiểu được rằng khách hàng chính của Boys’ love là phụ nữ, chứ không phải đàn ông đồng tính. “Bởi vì quan điểm phụ nữ dị tính thích thú với mối quan hệ lãng mạn hoặc tình dục giữa những người đàn ông đồng tính là một điều mới mẻ trong nền văn hóa của chúng ta (tương phản với việc đàn ông dị tính thích đồng tính nữ), nhiều thị trường truyền thống đã khước từ”, một nhà xuất bản viết. “Các thị trường dị tính truyền thống không cần chúng tôi, và chúng tôi không nhắm đến mục tiêu là những người đàn ông đồng tính”.

Thật vậy, Boys’ love được xem xét một cách phổ biến là thể loại của phụ nữ, được viết bởi phụ nữ cho phụ nữ. [54] TokyoPop’s BLU báo cáo rằng, không có nỗ lực để nắm bắt các độc giả nam hoặc đồng tính luyến ái nam “trừ khi tổng thể thương hiệu cố tình không nữ tính”. Tuy nhiên, nhà xuất bản thêm vào, đã có sự phỏng vấn được thực hiện bởi The Advocate và phương tiện truyền thông đồng tính luyến ái nam khác và cảm thấy “tương đối được đón nhận” trong cộng đồng blogger đồng tính luyến ái nam. Better with Boys báo cáo rằng, không nhắm mục tiêu cụ thể đến nam giới hay những người đồng tính luyến ái nam nhưng vẫn sẽ phải làm như vậy trong tương lai.

Ngược lại, Yaoi Press thực hiện một nỗ lực cố ý để tiếp cận với độc giả đồng tính nam, đóng góp tài nguyên cho các tuyển tập truyện tranh Prism, gửi những bản sao chép tác phẩm đến tạp chí và tuần san đồng tính, và làm việc như một thành viên tích cực của Trung tâm GLBT Las Vegas. Yamila Abraham báo cáo trong blog Yaoi Press vào tháng 7 năm 2007 rằng: “Tại everythingyaoi.com tôi nhìn thấy khoảng 25% đến 30% của các đơn đặt hàng đến từ những người đàn ông. Tại các hội chợ (conventions) có cùng một tỷ lệ nam giới mua sách ở các gian hàng. Tôi đã nghe người ta nói rằng 90-95% người mua yaoi là phụ nữ. Kinh nghiệm của tôi cho thấy 25-30% là nam giới”. [55]

Vấn đề này, cô tiếp tục, là tìm hiểu làm thế nào để bán các sản phẩm cho những cá nhân đồng tính nam, mà không nhất thiết phải tổ chức các hội chợ lớn về anime hoặc manga cho người tham dự.

Trong cuộc khảo sát, Yaoi Press cho rằng, thưởng thức Boys’ love và hỗ trợ quyền lợi người đồng tính không thể tách rời: “Quan điểm chống lại người đồng tính luyến ái nam đôi khi liên lụy đến yaoi với nguyên nhân được đưa ra từ một số người là, họ chống lại nó bởi vì nó chứa nội dung khiêu dâm. Rất ít người sẽ thừa nhận rằng lý do họ sẽ không bán Boys’ love, hoặc cho phép các ngành công nghiệp Boys’ love được triển lãm tại các hội chợ của họ, là bởi vì những quyển sách miêu tả sự lãng mạn của tình dục đồng giới. Họ biết nó không đúng về mặt chính trị khi phân biệt đối xử chống lại người đồng tính luyến ái nam, do đó, họ gọi nó là khiêu dâm. Hầu hết tựa sách yaoi được công bố hiện nay không chứa những cảnh quan hệ tình dục rõ ràng. Nếu câu chuyện là về một người đàn ông và một người phụ nữ thì sẽ không có rào cản. Yaoi không thể tách rời bản thân mình khỏi những vấn đề mà truyền thông của người đồng tính luyến ái nam phải đối mặt. Đó là lợi ích lớn nhất của ngành công nghiệp Boys’ love để hỗ trợ và bao gồm các cộng đồng đồng tính luyến ái nam.”

Điều thú vị là quan điểm này xuất phát từ các nhà xuất bản thương mại nổi bật nhất của GloBL tại Hoa Kỳ; nếu các nhà xuất bản khác chia sẻ quan điểm của Yaoi Press, nó có thể là một sự tiếp biến của Boys’ love để tạo ra hoặc kinh doanh theo cách có nhiều khả năng thu hút độc giả nam giới. [56]

Một thách thức mà các nhà xuất bản Boys’ love phải đối mặt là việc tìm kiếm địa điểm có thể chấp nhận quảng cáo cho các sản phẩm “người lớn”. Một nhà xuất bản Boys’ love báo rằng, họ đã bị từ chối không gian quảng cáo bởi xuất bản phẩm anime và manga Hoa Kỳ, nơi có xu hướng nhắm tới mục tiêu là các độc giả trẻ, và do đó không sẵn lòng quảng cáo cho các sản phẩm người lớn trong các trang của họ. Một số nhà xuất bản Boys’ love cho biết, hầu hết các công việc của họ là tiếp thị trực tuyến và tại các hội chợ, mặc dù một số hội chợ cũng đã phản đối việc bán “các sản phẩm người lớn” cho người tham dự. Yaoi Press báo cáo rằng, họ thúc đẩy công việc của mình tại các hội chợ và bản quảng cáo kinh doanh, đồng thời tiếp thị đến cửa hàng sách người lớn và các cửa hàng phân phối chuyên dụng cho người đồng tính luyến ái nam.

Tương lai của Boys’ love ở Hoa Kỳ

Vào mùa xuân năm 2008, khi cuộc khảo sát được gửi đi, vấn đề trở nên rõ ràng rằng Boys’ love không còn được mở rộng nhanh chóng như nó đã từng trong những năm trước, và các câu trả lời trong khảo sát phản ánh nhận định đó. “Nguyên nhân nó bị chậm lại là do thị trường đang tràn ngập rác phẩm”, được viết bởi Better with Boys trong cuộc khảo sát. “Các công ty xuất bản mỗi mảnh của Boys’ love, họ có thể… rốt cuộc sẽ thất bại”. Đại diện của TokyoPop đã đồng ý: “Có một số lượng lớn sản phẩm hiện tồn ở Nhật Bản, nhưng rất nhiều trong số đó là chung chung và cookie-cutter, vì vậy tôi hoài nghi là có bao nhiêu người hâm mộ Hoa Kỳ đang thực sự quan tâm thể loại này đến mức nó có thể giữ cho ngành công nghiệp tiếp tục phát triển”.

Trong khi logic của thị trường toàn cầu hóa khuyến khích tình trạng cần chi phí thấp nhất để sản xuất và hấp dẫn lớn nhất lượng khách hàng, khi người tiêu dùng phát triển ngày càng sành điệu hơn và quan tâm đến một sản phẩm cụ thể hơn, họ bắt đầu yêu cầu tăng cường sự đa dạng và chất lượng. [57] Mặc dù Boys’ love, trong nhiều năm, được mở rộng nhanh chóng trong thị trường manga Hoa Kỳ, khách hàng của nó hiện giờ đã trở nên sáng suốt hơn. Nếu bản thân các nhà xuất bản Boys’ love tin tưởng rằng nhiều manga Boys’ love có sẵn tại Hoa Kỳ là chung chung, có khả năng là người tiêu dùng hâm mộ (consumer-fans) cũng chia sẻ quan điểm này. Tất nhiên, cũng khó khăn để gỡ rối các vấn đề mà ngành công nghiệp manga phải đối mặt trong năm 2008 với những khủng hoảng kinh tế to lớn mà Hoa Kỳ phải đối đầu với trong năm đó; sự suy giảm doanh số bán hàng Boys’ love ghi nhận trong mùa xuân có thể là một cảnh báo sớm về các vấn đề kinh tế rộng lớn hơn sẽ theo sau trong năm 2008.

Tuy nhiên, làm việc trên giả định rằng, vấn đề là có một sự thừa thãi trong thị trường Boys’ love, nhà xuất bản trong cuộc khảo sát đề nghị một số giải pháp. “Các nhà xuất bản Boys’ love phải tìm các tựa sách độc đáo nhất”, TokyoPop viết. “Cung cấp các tác phẩm chất lượng cao hơn và đặc biệt chú ý đến các OEL và toàn cầu thị trường là điều cần thiết để thành công”, Better with Boys lưu ý, “các nhà xuất bản cũng phải là người hâm mộ, bởi vì những người xa lạ với thể loại này sẽ không biết được những gì thu hút độc giả trung thành của nó”. Yaoi Press thêm rằng, “việc nắm bắt những độc giả mới là một phần quan trọng trong tương lai của Boys’ love, vì “một người hâm mộ chỉ cần chạm vào yaoi một lần duy nhất, họ sẽ trở thành một người hâm mộ suốt đời của nó”.

Mặc dù thị trường suy thoái, TokyoPop vẫn lạc quan về tương lai của Boys’ love: “Trừ khi các thị trường truyện tranh tổng thể mở rộng mạnh mẽ một lần nữa, tôi sẽ không thấy Boys’ love tăng trưởng đặc biệt nhanh chóng. Mặc dù tôi không nhìn thấy bất kỳ phản ứng dữ dội hoặc tai nạn công nghiệp, hoặc cả hai. Chậm mà chắc”.

Kết luận

Việc giới thiệu tương đối gần đây và thành công khắp thị trường của manga Boys’ love ở Hoa Kỳ cung cấp một cơ hội đáng chú ý để theo dõi sự phát triển giao lưu văn hóa thương mại, thích ứng, và tiếp biến của một thể loại phổ biến trên toàn cầu – nhưng mới mẻ tại địa phương – xuyên suốt một quốc gia. Trong cuộc thảo luận này, sự nhấn mạnh được đặt vào chiến lược xuất bản thương mại cho việc giới thiệu Boys’ love đến Hoa Kỳ, mặc dù sự chú ý có thể được dàn trải cho nhiều cách thức, trong đó người hâm mộ Hoa Kỳ và cộng đồng dịch manga đã làm việc để giới thiệu và quảng bá cho thể loại này. Đặc biệt, Boys’ love ở Hoa Kỳ đã được mô tả như là một ví dụ cụ thể của toàn cầu hóa và tiếp biến hóa về một mặt hàng văn hóa.

Các nhà xuất bản manga Hoa Kỳ đã đi đầu trong việc quyết định Boys’ love sẽ được xuất hiện như thế nào trong thị trường đại chúng Hoa Kỳ. Các nhà xuất bản hoạt động như người kiểm duyệt trong cuộc giao lưu văn hóa, lựa chọn sản phẩm mà họ tin rằng sẽ phổ biến và tương đối không theo quy ước cho độc giả phương Tây, các nhà phân phối và bán lẻ. Họ cũng thực hiện hành động tương tự như kiểm duyệt, sửa đổi hoặc điều chỉnh các văn bản gốc hoặc tác phẩm nghệ thuật để tránh sự chỉ trích từ các nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người tiêu dùng. Cuối cùng, họ hành động như đại sứ giao lưu văn hóa, giải thích Boys’ love cho các nhà phân phối, nhà bán lẻ và phương tiện truyền thông, đồng thời giới thiệu thể loại này đến các độc giả mới tiềm năng, chủ yếu tại các hội chợ manga và anime.

Các nhà xuất bản tác phẩm GloBL đang ở trong một mối quan hệ đặc biệt thú vị với người sáng tạo và người tiêu dùng khi họ thúc đẩy tính tiếp biến, phát triển manga địa phương, những thứ còn đang phát triển một bản sắc độc đáo như một tác phẩm văn hóa cắt ghép của những phong cách và hình tượng cốt truyện. Boys’ love không phải Nhật Bản, vẫn còn là một thành tố tương đối trẻ của ngành công nghiệp GloBL, xuất hiện như một hình thức “nền tảng hội tụ” văn hóa, thứ đang biến người hâm mộ Boys’ love thành nhà sản xuất và nhà phân phối trong một vũ đài thương mại toàn cầu.

Mặc dù Boys’ love đã được hưởng sự tăng trưởng mạnh mẽ trong nhiều năm tại Hoa Kỳ, sự nổi tiếng bùng nổ ban đầu có thể suy yếu dần. Có thể là vì độc giả Hoa Kỳ hiểu các thể loại tốt hơn và có một số lượng lớn các sản phẩm trên thị trường đại chúng (mass-market) để lựa chọn, họ đang bắt đầu hành xử nhiều hơn theo cách tự do của người tiêu dùng. Kết quả là, các nhà xuất bản Boys’ love Hoa Kỳ đã trụ lại có thể thấy mình buộc phải vật lộn hơn nữa với nhu cầu và mong đợi của giao lưu văn hóa khi họ tìm cách để thu hút nhiều hơn những người tiêu dùng và hâm mộ Boys’ love ngày càng sành điệu ở Hoa Kỳ.

Chú thích

[1] Tác giả đã được chuẩn hóa lại chính tả, ngữ pháp và dấu chấm câu của các phản hồi trong cuộc khảo sát.

[2] Marwan Kraidy, Hybridity, or the Cultural Logic of Globalization, Philadelphia, PA: Temple University Press, 2005.

[3] Douglas McGray, ‘Japan’s gross national cool,’ in Foreign Policy, May/June 2002, pp. 44–54.

[4] Koichi Iwabuchi, Recentering Globalization: Popular Culture and Japanese Transnationalism, Durham and London: Duke University Press, 2002.

[5] ‘Graphic novels hit $375 million, plus comics = $705 million,’ in ICv2.com (April 18, 2008), online: http://www.icv2.com/articles/news/12416.html, site accessed 27 June 2008.

[6] Iwabuchi, Globalization, 2002, pp. 27–28.

[7] ‘Unflopped’ là thuật ngữ dùng cho loại manga giữ lại việc đọc các trang từ phải sang trái theo bản gốc tiếng Nhật; loại manga ‘flop’ được đọc từ trái sang phải để tạo thuận lợi cho độc giả nói tiếng Anh. Hầu hết các nhà xuất bản ở Hoa Kỳ đã từ bỏ manga ‘unflopped’.

[8] See Terry Kawashima, ‘Seeing faces, making races: challenging visual tropes of racial difference,’ in Meridians, vol. 3, no. 1 (2002):161–90, for a discussion of reading racial representations in manga.

[9] Kraidy, Hybridity, p. 101.

[10] Anne Allison, ‘Sailor Moon: Japanese superheroes for global girls,’ in Japan Pop! Inside the World of Japanese Popular Culture, ed. Timothy J. Craig, Armonk, N.Y.: M.E. Sharpe, 2000, pp. 259–78, p. 264.

[11] Hirofumi Katsuno and Jeffrey Maret, ‘Localizing the Pok é mon TV Series for the American Market,’ in Pikachu’s Global Adventure: The Rise and Fall of Pokémon, ed. Joseph Tobin, Durham: Duke University Press, 2004, pp. 80–107.

[12] Allison, ‘Sailor Moon,’ p. 265, pp. 274–275.

[13] Iwabuchi, Globalization, 2002.

[14] Frederik Schodt, Manga! Manga! The World of Japanese Comics, Tokyo: Kodansha International, 1983.

[15] Các thuật ngữ Boys’love, yaoi, shounen-ai, June, và những từ hơi khác nghĩa một chút; bài viết này sẽ sử dụng Boys’love để hay thế cho tất cả các thuật ngữ khác. Đối với bối cảnh lịch sử, xem Fusami Ogi, “Gender insubordination in Japanese comics (Manga) for girls”, được minh họa trong cho Asia: Comics, Humor Magazines, and Picture Books, ed. John A. Lent, Honolulu: University of Hawai’i Press, 2001, pp. 171–86; Akiko Mizoguchi, ‘Male-male romance by and for women in Japan: a history and the subgenres of yaoi fictions,’ in U.S.-Japan Women’s Journal, vol. 25 (2003):49–75; or Mark J. McLelland, ‘The love between “beautiful boys” in Japanese women’s comics,’ in Journal of Gender Studies, vol. 9, no. 1 (March 2000)13–25.

[16] Slash là một hình thức truyện kể do người hâm mộ tạo ra dựa trên cốt truyện, văn bản, nhân vật được sáng tạo bởi người khác trong các bộ phim, chương trình truyền hình, hay tiểu thuyết đại chúng và đặt những nguyên mẫu này vào những tình huống lãng mạn hay tình dục; see Sonia K. Katyal, “Performance, property, and the slashing of gender in fan fiction” in American University Journal of Gender, Social Policy & the Law, vol. 14, no. 3 (2006):461–518 cho thấy những thông tin về vấn đề bản quyền xung quanh fanfiction. Manga BL, mặt khác, bao gồm những câu chuyện ban đầu hoặc chuyển thể ủy quyền của các nhân vật trong tiểu thuyết hay chương trình truyền hình – slash cũng tương tự như doujinshi, hoặc truyện tranh tự xuất bản (self-published comics), dựa trên nhưng series manga hay anime khác đã có từ trước.

[17] For more information, see Midori Matsui, ‘Little girls were little boys: displaced femininity in the representation of homosexuality in Japanese girls’ comics,’ in Feminism and the Politics of Difference, ed. Sneja Gunew and Anna Yeatman, Boulder: Westview Press, 1993, pp. 177–96; Tomoko Aoyama, ‘Male homosexuality as treated by Japanese women writers,’ in The Japanese Trajectory: Modernization and Beyond, ed. Gavin McCormack and Yoshio Sugimoto, Cambridge: Cambridge University Press, 1988, pp. 186–204; or Mark McLelland, ‘Why are Japanese girls’ comics full of boys bonking?’ in Refractory, vol. 10 (2006), online: http://blogs.arts.unimelb.edu.au/refractory/2006/12/04/why-are-japanese-girls%e2%80%99-comics-full-of-boys-bonking1-mark-mclelland/#more-88, site accessed 2 January 2009.

[18] Mặc dù rất nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết, Boys’love đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc hiện đang có sẵn những bản tiếng Anh được scan và chuyển ngữ không có bản quyền được tạo sẵn cho độc giả thông qua việc download trực tuyến, IRC, hoặc peer-to-peer file sharing;  phân tích này sẽ chỉ tập trung vào sự thích ứng, tiếp thị  và phân phối sản phẩm có bản quyền và được dịch từ tiếng Nhật, hoặc không phải từ tiếng Nhật, Boys’ love ở Hoa Kỳ. Các nhóm dịch đã đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng Boys’ love fandom ở Hoa Kỳ, nhưng các nhà xuất bản thương mại mới là người chịu trách nhiệm trong việc giới thiệu và hợp pháp hóa Boys’ love với dòng văn hóa đại chúng chính thống rộng lớn hơn của Hoa Kỳ.

[19] Đối với thời gian biểu chi tiết về sự giới thiệu và lan rộng của Boys’ love ở Hoa Kỳ, see Dru Pagliassotti, ‘Yaoi timeline: spread through U.S.,’ 2 June 2008, online: http://ashenwings.com/marks/2008/06/02/yaoi-timeline-spread-through-us/, site accessed 1 November 2008.

20] Ed Chavez, ‘Yaoi-Con and BL, no longer “niche”,’ in Publisher’s Weekly (Oct. 30, 2007), online: http://www.publishersweekly.com/article/CA6495479.html?q=yaoi, site accessed 9 June 2008.

[21] ‘Iris Print Wilts: BL publisher shuts down,’ in iCv2.com (June 17, 2008), online: http://www.icv2.com/articles/news/12751.html, site accessed 18 June 2008.

[22] Matthew Pustz, Comic Book Culture: Fanboys and True Believers, Mississippi: University Press of Mississippi, 1999.

[23] David Morley & Kevin Robins, Spaces of Identity: Global Media, Electronic Landscapes and Cultural Boundaries, New York: Routledge, 1995, p. 117.

[24] Morley & Robins, Spaces of Identity, p. 18.

[25] Tất nhiên, người tiêu dùng – người hâm mộ (consumer-fans) có nhiều sự lựa chọn để có được Boys’love manga, chẳng hạn như đặt hàng từ các nước khác nhau, mua manga chưa được dịch từ các hiệu sách tiếng Nhật ở Hoa Kỳ, hoặc có được bản dịch không có bản quyền thông qua mạng lưới người hâm mộ.

[26] Timothy Perper & Martha Cornog, ‘Eroticism for the masses: Japanese manga comics and their assimilation into the U.S.,’ in Sexuality & Culture, vol. 6, no. 1 (Winter 2002):3–126, p. 23, italics in original.

[27] Yamila Abraham, ‘Incest in yaoi,’ in Yaoi Press blog (Dec. 6, 2007), online: http://yaoipress.wordpress.com/2007/12/06/incest-in-yaoi/, retrieved 9 June 2008.

[28] Shotaro là tên của một nam thanh niên trong series manga Tetsujin 28-go, và thông tin về thuật ngữ shotacon – tác giả vẫn chưa xác định được thông tin chính xác – xuất phát từ tên nhân vật này để mô tả phức cảm “’Shōtarō complex”, như một sự đánh giá cho sự dễ thương/hấp dẫn tình dục của chàng trai trẻ, song song với việc sử dụng các thuật ngữ lolicon cho “Lolita complex”, như một sự đánh giá cho sự dễ thương/hấp dẫn tình dục của cô gái trẻ. Shota hay shotacon được sử dụng chung để chỉ manga hoặc anime mô tả hành vi tình dục giữa thanh thiếu niên hoặc giữa người lớn và trẻ em trai.

[29] See Mark McLelland, ‘The world of yaoi: the internet, censorship and the global “boy’s love” fandom,’ in The Australian Feminist Law Journal, vol. 23 (2005):61–77. Với những điều khoảng nặng nề trong pháp luật của Australia chống lại việc khiêu dâm trẻ em, nhiều cuộc thảo luận đã diễn ra giữa các nhà tổ chức sự kiện The Original Japanese Transnational Fandoms và sau đó với các biên tập viên của Intersections (một tạp chí khoa học) về loại hình ảnh có thể sử dụng trong các bài thuyết trình và bài nghiên cứu. Một số hình ảnh tự do có sẵn trên mạng Boys’ love thương mại tại Hoa Kỳ mà ban đầu được đề xuất để hỗ trợ cho lập luận của nghiên cứu này đã bị cắt giảm do các biên tập viên lo ngại rằng họ có thể đã vi phạm pháp luật Australia. Pháp luật Australia thậm chí cấm các nhân vật dưới 16 tuổi xuất hiện trong bối cảnh tình dục, thus rendering illegal even publications that clearly state the age of the characters to be over 18 but given the manner in which they are drawn may suggest a younger age to readers not familiar with manga’s stylistic conventions.

[30] Be Beautiful không trả lời cuộc khảo sát này; các ấn phẩm của công ty này được mô tả ở đây chỉ dựa trên quan sát và phân tích riêng của tác giả.

[31] Lưu ý chung của nhà xuất bản ở bên trong bìa sau của Midaresomenishi tuyên bố rằng “Tất cả các nhân vật được miêu tả trong hành vi tình dục hoặc trong cảnh khỏa thân đều từ 19 tuổi trở lên. ‘ Tuy nhiên, Fujimaru có vẻ trẻ hơn nhiều so với tuổi 19 ở phần đầu của manga. Hơn nữa, khi câu chuyện bắt đầu, his crown is bald but his forelock intact, ngụ ý rằng anh vẫn là một con người chưa trải qua lễ genpuku đánh dấu sự trưởng thành để cạo một phần tóc. Lễ này chắc chắn sẽ diễn ra khi anh 19 tuổi, và sớm nhất là 12 tuổi. Vì vậy, có thể Fujimaru lớn hơn 12 tuổi trong câu chuyện, nhưng không chắc 19 tuổi. Nhưng câu chuyện không bao giờ xác định độ tuổi của nhân vật này.

Xu hướng đặt lưu ý chung về độ tuổi cho các tuyển tập Boys’love của các nhà xuất bản manga Boys’love Hoa Kỳ như vậy là bởi vì độc giả của chúng ít hơn so với các loại tiểu thuyết khác, bằng chứng là rất nhiều manga liên quan đến học sinh trung học có lưu ý như vậy được độc giả tin rằng các nhân vật đều từ mười tám tuổi trở lên. Lời phủ nhận về độ tuổi nhân vật đã trở nên ít phổ biến hơn trong các tác phẩm mới xuất bản hơn.

[32] Tina Anderson, ‘That Shotakon article!’ in GGY-Meta: Guns, Guys, & Yaoi blog (n.d.), online: http://ggymeta.wordpress.com/that-shotakon-article/, site accessed 9 June 2008.

[33] Fan service đề cập đến nội dung thường xuyên cho không gợi tình hoặc tình dục định hướng, nhưng đôi khi chỉ là ‘dễ thương’, như trong trường hợp của mặc quần áo nhân vật trong trang phục-đó đã được thêm vào một manga hay anime đến hấp dẫn đối với người hâm mộ nhưng không làm gì để tiếp tục cốt truyện.

[34] Peter Howell, ‘Strategy and style in English and French translations of Japanese comic books,’ in Edinburgh Working Papers in Applied Linguistics, no. 11 (2001):59 –66.

[35] Calvin Reid, ‘Fans ticked over manga censorship,’ in Publisher’s Weekly (May 9, 2005), online: http://www.publishersweekly.com/article/CA509540.html, site accessed 29 October 2008.

[36] ‘Negima to not be censored,’ in Anime News Network (February 27, 2004), online: http://www.animenewsnetwork.com/news/2004-02-27/negima-to-not-be-censored, site accessed 29 October 2008.

[37] ‘Viz edits Fullmetal Alchemist,’ in Anime News Network (September 11, 2006), online: http://www.animenewsnetwork.com/news/2006-09-11/viz-edits-fullmetal-alchemist, site accessed 29 October 2008.

[39] See Heike Elisabeth Jüngst, ‘Japanese comics in Germany,’ in Perspectives: Studies in Translatology, vol. 12, no. 2 (2004):83–105 for another discussion of the cross-cultural problematic of swastikas in manga.

[40] Việc xếp loại thường được tìm thấy trên mặt sau của manga được xuất bản ở Hoa Kỳ, dùng để chỉ định cho manga này thích hợp với các nhóm tuổi cụ thể nào là một hình thức khác của việc tiếp thị, nhưng vì sự xếp loại không thật sự đáng chú ý, chúng không phải là một cách thích ứng. Một người quan sát bình thường sẽ không biết về xếp loại hay giới hạn độ tuổi của manga, bằng việc chỉ nhìn bên ngoài một người nào đó đang cầm manga này, trong khi một tuyển tập bị thu nhỏ và đóng gói lại có nhiều khả năng được coi là chứa nội dung người lớn. Một ngoại lệ có thể xảy ra nếu một cửa hàng thu nhỏ và đóng gói tất cả các manga của mình để ngăn chặn việc đọc miễn phí; đây không phải là hành động thường thấy trong các chuỗi cửa hàng sách lớn của Hoa Kỳ, nhưng đôi khi nó xảy ra ở, nhà sách tư nhân nhỏ hơn hoặc các cửa hàng truyện tranh.

[41] Tác phẩm viết, trên lý thuyết, được coi là khiêu dâm bởi một tòa án Mỹ, sử dụng “the three-pronged test” được thành lập vào năm 1973, trường hợp Miller v. California – các tác phẩm phải (1) theo phán đoán của một người bình thường, áp dụng các tiêu chuẩn đương thời của cộng đồng, thu hút sự quan tâm mang nghĩa dâm dục, (2) mô tả hoặc giải thích, một cách rõ ràng xúc phạm, hành vi tình dục hoặc các chức năng bài tiết đặc biệt theo quy định của pháp luật nhà nước hiện hành, và (3) thiếu giá trị văn học, nghệ thuật, chính trị hay khoa học nghiêm túc. Trong thực tế, theo luật của Hoa Kỳ, vô cùng khó khăn để xác định rằng văn bản được viết là khiêu dâm. Kể từ khi Miller v. California và tới tháng 11 năm 2008 (thời gian bài nghiên cứu được viết), Chính phủ liên bang Hoa Kỳ chưa bao giờ xác định được đâu là khiêu dâm dựa trên văn bản của một tác phẩm đã được hoàn toàn.

[42] See, for example, discussions in John Hutnyk, ‘Hybridity,’ in Ethnic and Racial Studies, vol. 28, no. 1 (January 2005):79–102, and Kraidy, Hybridity.

[43] Kraidy, Hybridity, p. 148.

[44] Kraidy, Hybridity.

[45] Henry Jenkins, Fans, Bloggers, and Gamers: Exploring Participatory Culture, New York: New York University Press, 2006, p. 167.

[46] Tina Anderson, ‘The Western BL sex scene!’ in GGY-Meta: Guns, Guys, & Yaoi blog (n.d.), online: http://ggymeta.wordpress.com/the-western-bl-sex-scene/, site accessed 9 June 2008.

[47] Sarah Payne, thông tin liên lạc cá nhân, 19 Tháng sáu 2008. Ngược lại, Andrea Wood tóm tắt một số câu chuyện và những khó khăn trong việc xác định hoặc diễn giải các nhân vật của Boys’ love có căn tính tình dục là “gay” hay “straight” trong suy nghĩ của phụ nữ “Straight”, queer texts: boy-love manga and the rise of a global counterpublic,’ in Women’s Studies Quarterly, vol. 34, nos 1/2 (Spring 2006):394–414.

[48] John Hutynk, ‘Hybridity saves? Authenticity and/or the critique of appropriation,’ in Amerasia Journal, vol. 25, no. 3 (1999/2000):39–58.

[49] McGray, ‘Japan’s gross national cool.’

[50] Người hâm mộ là những người tiêu dùng háo hức, nhưng họ không phải là người luôn luôn tiêu thụ các sản phẩm Boys’ love thương mại. Các bản scan được cung cấp miễn phí và fan art, truyện chữ, truyện tranh và video phá vỡ thị trường tư bản chủ nghĩa, và trong một số trường hợp, phá hoại nó, như khi người hâm mộ quyết định không mua một sản phẩm có bản quyền bởi vì họ đã sở hữu nó trong một hình thức trái phép.

[51] William W. Kelly, ‘Introduction: locating the fans,’ in Fanning the Flames: Fans and Consumer Culture in Contemporary Japan, New York: State University of New York Press, 2004, pp. 1–16.

[52] Người hâm mộ cũng có ảnh hưởng đến nhà xuất bản trong việc mua bản quyền các tựa sách, bằng cách trả lời khảo sát của các nhà xuất bản Boys’ love Hoa Kỳ và phản hồi các truy vấn trên các diễn đàn và hội chợ manga.

[53] See Sonia K. Katyal, ‘Performance, property, and the slashing of gender in fan fiction,’ in Journal of Gender, Social Policy, and the Law, vol. 14 (2006):463–518, for an analysis of fanfiction, slash, and copyright law in the United States.

[54] Tuy nhiên, một cuộc khảo sát trước đó của các tác giả cho thấy rằng khoảng 10 phần trăm độc giả Boys’love phương Tây, tự báo cáo là đồng tính hay lưỡng tính; see Dru Pagliassotti, ‘Reading boys’ love in the West,’ in Participations, vol. 5, no. 2 (2008), online: http://www.participations.org/Volume%205/Issue%202/5_02_pagliassotti.htm, date accessed 2 January 2009.

[55] Yamila Abraham, ‘SDCC / Rambles / Gay Men and Yaoi,’ in Yaoi Press blog (July 24, 2007), online: http://yaoipress.wordpress.com/2007/07/24/sdcc-rambles-gay-men-and-yaoi/, site accessed 9 June 2008.

[56] Tại Hoa Kỳ, một họa sĩ/nhà xuất bản, người đã làm điều này là Alex Woolfson của Yaoi 911. Ông lưu ý rằng ông không nhất thiết tạo ra các tác phẩm Boys’love “chỉ dành cho những người đàn ông đồng tính khác”; see ‘Why this gay man is creating yaoi,’ in Yaoi 911 (August 20, 2006), online: http://www.yaoi911.com/why-this-gay-man-is-creating-yaoi/, site accessed 1 November 2008.

Mặc dù có vẻ như những sản phẩm manga Boys’ love được tiếp biến đó nhắm mục tiêu là các độc giả nam, không có lý do nào khác hơn vì Boys’love là một thể loại cố hữu dành cho những người phụ nữ Nhật Bản, Tina Anderson cho rằng thể loại “Bara” của Nhật Bản, được viết bởi và cho những người đàn ông đồng tính, là hình thức đương đại và thu hút người hâm mộ là đồng tính nam cho Boys’ love. See Anderson’s article ‘That damn bara article!,’ n.d., online: http://ggymeta.wordpress.com/that-bara-article/, site accessed 1 November 2008.

[57] Tyler Cowen, Creative Destruction: How Globalization is Changing the World’s Cultures, Princeton: Princeton University Press, 2002, pp. 102–127.

Phụ lục

Zoomerang: http://app.zoomerang.com/Report/print_survey_body.zgi?ID=L23

 http://intersections.anu.edu.au/issue20/images/pagliassotti_appendix1.pdf.

MANG BOYS’ LOVE ĐẾN PHƯƠNG TÂY

Mang Boys’ Love đến phương Tây
Một công trình nghiên cứu Yaoi
Dru Pagliassotti, Ph.D.

Cảm ơn bạn đã tham gia cuộc khảo sát này. Tôi hy vọng tìm hiểu về các chiến lược kinh doanh Boys’ love (BL)  mà nhà xuất bản thực hiện một cách thành công để mang Boys’ love đến phương Tây, chủ yếu là các thị trường đọc tiếng Anh, và về các khuynh hướng phát triển của thể loại này trong tương lai mà các nhà xuất bản tin tưởng.

BẠN LUÔN LUÔN CÓ THỂ CHỌN GIỮ CÁC CHI TIẾT VỀ CÁC VÍ DỤ CỤ THỂ

Nếu bạn yêu cầu giấu tên cho một phản hòi, tôi sẽ loại bỏ tất cả các ngày, tên, tựa đề manga / cuốn sách, vv từ ví dụ của bạn tôi nên đề cập đến nó trong một bài báo hoặc bài thuyết trình.

THÔNG TIN LAI LỊCH

1. Tên công ty:

2. Tên người khảo sát (không bắt buộc):

3. Tên công việc/Chức danh:

4. Điều gì sau đây Công ty bạn hiện đang xuất bản? (Bạn có thể chọn nhiều hơn một):

Cấp phép & dịch manga BL Nhật Bản
Cấp phép & dịch manhwa BL Hàn Quốc
Cấp phép & dịch tiểu thuyết BL Nhật Bản
Manga BL nguyên bản tiếng Anh
Truyện và tiểu thuyết BL nguyên bản tiếng Anh
Những bình luận khác:

5. Khoảng bao nhiêu tựa sách Boys’ love công ty của bạn đã xuất bản cho đến nay?

6. Khi nào tác phẩm Boys’ love của công ty bạn được xuất bản?

Năm nay (2008)
Năm ngoái (2007)
2006
2005
2004
2003
2002
Sớm hơn:

7. Những kỳ vọng về lợi nhuận là trung tâm của hầu hết các quyết định xuất bản, tất nhiên, nhưng lý do khác có thể ảnh hưởng đến thị trường mà nhà xuất bản quyết định bước vào hoặc lảng tránh.

Lý do chính công ty của bạn quyết định bắt đầu xuất bản tác phẩm với thể loại Boys’ love là gì?

Sở thích cá nhân đối với thể loại Boys’ love tại vị trí một quản lý/quyết định kinh doanh
Khuyến khích/áp lực từ người hâm mộ bên ngoài công ty
Thấy rằng Boys’ love đã có lợi nhuận ở Nhật Bản và hy vọng nó sẽ như vậy tại Hoa Kỳ.
Thấy rằng Boys’ love đã có lợi nhuận ở Hoa Kỳ và đã quyết định gia nhập thị trường
Những bình luận khác:

8. Một số tác phẩm Boys’ love chứa các chủ đề hoặc tình huống không được chú ý ở Nhật Bản nhưng có thể tăng tranh cãi tại Hoa Kỳ.

Chủ đề hoặc tình huống gây tranh cãi nào sau đây trong manga ĐÃ ĐƯỢC công ty của bạn  xuất bản? (Xin vui lòng không bao gồm tiểu thuyết / truyện)

Uống rượu khi chưa đủ tuổi hoặc sử dụng ma túy
Vẽ hoặc mô tả một cách rõ ràng hành vi tình dục giữa những người đàn ông (chứ không phải là bôi đen, che phủ bằng hoa)
Quan hệ tình dục tàn bạo (S&M hay B&D)
Quan hệ tình dục không đồng thuận
Quan hệ tình dục giữa những người thân là nam nhưng không phải là anh em, cha mẹ hoặc con trai
Quan hệ tình dục giữa những anh em là con riêng trong gia đình cha mẹ tái hôn
Quan hệ tình dục giữa anh em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha
Quan hệ tình dục giữa anh em ruột
Quan hệ tình dục giữa cha và con trai
Quan hệ tình dục giữa các đối tượng thiếu niên từ 13-17 tuổi.
Quan hệ tình dục giữa các đối tượng 12 tuổi hoặc nhỏ hơn.
Quan hệ tình dục với một đối tượng  động vật hoặc bán động vật (ví dụ, người hóa thú, hồ ly tinh, vv)
Quan hệ tình dục với một thực thể phi nhân (ác quỷ, thiên thần, ma, yêu tinh, kappa, vv)
Những bình luận khác:

9. Các chủ đề hoặc tình huống gây tranh cãi nào sau đây công ty của bạn sẽ KHÔNG BAO GIỜ xuất bản trong manga?

Uống rượu khi chưa đủ tuổi hoặc sử dụng ma túy
Vẽ hoặc mô tả một cách rõ ràng hành vi tình dục giữa những người đàn ông (chứ không phải là bôi đen, che phủ bằng hoa)
Quan hệ tình dục tàn bạo (S&M hay B&D)
Quan hệ tình dục không đồng thuận
Quan hệ tình dục giữa những người thân là nam nhưng không phải là anh em, cha mẹ hoặc con trai
Quan hệ tình dục giữa những anh em là con riêng trong gia đình cha mẹ tái hôn
Quan hệ tình dục giữa anh em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha
Quan hệ tình dục giữa anh em ruột
Quan hệ tình dục giữa cha và con trai
Quan hệ tình dục giữa các đối tượng thiếu niên từ 13-17 tuổi.
Quan hệ tình dục giữa các đối tượng 12 tuổi hoặc nhỏ hơn.
Quan hệ tình dục với một đối tượng  động vật hoặc bán động vật (ví dụ, người hóa thú, hồ ly tinh, vv)
Quan hệ tình dục với một thực thể phi nhân (ác quỷ, thiên thần, ma, yêu tinh, kappa, vv)
Những bình luận khác:

10. Lý do chính khiến công ty của bạn sẽ không xuất bản manga có chứa các chủ đề mà bạn đã chọn trong câu hỏi trước đó là gì?

N / A: Chúng tôi sẽ xuất bản bất kỳ chủ đề nào ở trên

Nhà phân phối có thể sẽ phản đối
Độc giả (người hâm mộ BL) nhiều khả năng sẽ phản đối
Cá nhân hoặc các tổ chức không phải người hâm mộ sẽ có khả năng phản đối
Miêu tả trên là bất hợp pháp tại quốc gia mà công ty của tôi tọa lạc
Miêu tả trên là bất hợp pháp ở các nước mà công ty của tôi bán sản phẩm
Những bình luận khác:

11. Bạn có thể cung cấp một ví dụ về một tác phẩm mà công ty của bạn đang xem xét nhưng đã quyết định không xuất bản do nội dung gây tranh cãi hoặc nhạy cảm?

Ưu điểm và nhược điểm mà công ty của bạn xem xét trước khi quyết định cho phép một tác phẩm?

12. Nếu công ty của bạn xuất bản truyện ngắn hay tiểu thuyết Boys’ love trong đó nếu có tình huống, có khả năng gây tranh cãi hoặc nhạy cảm đã nó bao gồm trong những câu chuyện hay tiểu thuyết?

Chúng tôi không xuất bản truyện ngắn hay tiểu thuyết

Uống rượu khi chưa đủ tuổi hoặc sử dụng ma túy
Vẽ hoặc mô tả một cách rõ ràng hành vi tình dục giữa những người đàn ông (chứ không phải là bôi đen, che phủ bằng hoa)
Quan hệ tình dục tàn bạo (S&M hay B&D)
Quan hệ tình dục không đồng thuận
Quan hệ tình dục giữa những người thân là nam nhưng không phải là anh em, cha mẹ hoặc con trai
Quan hệ tình dục giữa những anh em là con riêng trong gia đình cha mẹ tái hôn
Quan hệ tình dục giữa anh em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha
Quan hệ tình dục giữa anh em ruột
Quan hệ tình dục giữa cha và con trai
Quan hệ tình dục giữa các đối tượng thiếu niên từ 13-17 tuổi.
Quan hệ tình dục giữa các đối tượng 12 tuổi hoặc nhỏ hơn.
Quan hệ tình dục với một đối tượng  động vật hoặc bán động vật (ví dụ, người hóa thú, hồ ly tinh, vv)
Quan hệ tình dục với một thực thể phi nhân (ác quỷ, thiên thần, ma, yêu tinh, kappa, vv)
Những bình luận khác:

  1. Ẩn danh phản hồi này?

Có gì khác biệt trong nội dung “chấp nhận được” mà bạn mong đợi nhìn thấy giữa truyện ngắn và tiểu thuyết Boys’ love so với manga Boys’ love, và tại sao?

  1. Ẩn danh phản hồi này?

Nếu công ty của bạn đã nhận được khiếu nại về nội dung gây tranh cãi hay gây khó chịu ở một hoặc nhiều ấn phẩm của mình, làm thế nào để ứng phó với những khiếu nại, nếu như đã làm ở tất cả?

Những thay đổi trong chính sách hoặc thủ tục, nếu có, kết quả?

  1. Các người hâm mộ đôi khi yêu cầu xuất bản các tác phẩm chứa nội dung có vấn đề. Đôi khi, những thay đổi nhỏ có thể phá vỡ hoặc loại bỏ những vấn đề.

Trong đó, nếu có, các thay đổi hoặc thích nghi sau đây mà công ty đã thực hiện để xuất bản một tác phẩm có thể gây ra vấn đề?

Thêm lưu ý chung tuyên bố rằng tất cả các nhân vật tham gia vào quan hệ tình dục đều từ 18 tuổi trở lên
Thay đổi trang bìa gốc, hoặc loại bỏ nó hoàn toàn hoặc tái tạo nó ở bên trong và sử dụng một hình ảnh ít gây tranh cãi hoặc ít rõ ràng cho trang bìa
Loại bỏ một minh họa
Loại bỏ một khung hay một loạt các khung vẽ
Loại bỏ một câu chuyện hay một chương, có thể thay thế nó bằng một phần khác
Thay đổi trong bản dịch các từ hoặc các tình huống nhất định có thể chấp nhận
Chúng tôi chưa bao giờ làm sản phẩm thích nghi hoặc thêm lưu ý chung
Những bình luận khác:

  1. Ẩn danh phản hồi này?

Bạn vui lòng cung cấp một ví dụ về việc công ty của bạn thực hiện một tiếp thị theo định hướng thay đổi nội dung? Tại sao lại thay đổi trong nội dung cụ thể được chọn này?

  1. Công ty của bạn cos xuất bản bất kỳ manga, truyện, hay tiểu thuyết nguyên bản tiếng Anh (OEL) hay không?
  1. Tại sao bạn quyết định xuất bản manga hoặc truyện ngắn OEL?
  1. Những loại vấn đề hoặc thách thức bạn nghĩ là khác nhau cho các nhà xuất bản OEL và các nhà xuất bản của Boys’ love dịch?
  1. Bạn đã nhận thấy bất kỳ sự khác biệt đáng kể trong kiểu nhân vật, cốt truyện, phát triển quan hệ, kiểu quan hệ tình dục, vv giữa Boys’ love OEL và Boys’ love Asian hay không?
  1. Ẩn danh phản hồi này?

Các thách thức đặc biệt của việc tiếp thị Boys’ love đến độc giả phương Tây là gì?

Nếu bạn muốn, hãy mô tả một thách thức công ty của bạn đã giải quyết thành công.

  1. Ẩn danh phản hồi này?

Điều gì, bất kỳ, chiến lược quảng cáo hay tiếp thị mà công ty của bạn đang thực hiện để nhắm mục tiêu cụ thể là phụ nữ?

  1. Ẩn danh phản hồi này?

Điều gì, bất kỳ, chiến lược quảng cáo hay tiếp thị mà công ty của bạn đang thực hiện để nhắm mục tiêu cụ thể là nam giới hoặc cá nhân người đồng tính luyến ái nam.

  1. Ẩn danh phản hồi này?

Công ty của bạn có cần thực hiện bất kỳ bước đi đặc biệt nào để tập huấn cho các nhà phân phối hoặc nhà về sách Boys’ love hay khong? Nếu có, là những gì?

  1. Phát triển Boys’ love, công ty của bạn đã xuất bạn hoặc xem xét sẽ xuất bản bất cứ tác phẩm nào thuôc thể loại yuri, còn gọi là girl’s love (tình yêu của các cô gái) hay không?

Chúng tôi xuất bản nó
Chúng tôi đang xem xét xuất bản nó
Chúng tôi không có hứng thú trong việc xuất bản nó
Chúng tôi đã không được thảo luận công khai nó
Những bình luận khác:

  1. Mặc dù Boys’ love đã được mở rộng nhanh chóng trong việc xuất bản, một vài dấu hiệu cho thấy rằng nó có thể bị làm chậm lại. Theo ý kiến của bạn, tương lai của thể loại Boys’ love là những gì?
  1. Câu hỏi sau cùng! Bạn có bất cứ bình luận cuối cùng nào về các quyết định chiến lược đã được dụng là độc đáo để xuất bản Boys’ love hay không?

.

Bạn đã bảo vệ thành công đề cương. Tất nhiên là có sửa, nhưng không đến nỗi quá bi thảm. Tên đề tài gốc  “Trào lưu Boy’s love và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam” =))))))))))))))))

Review “Boys’ Love Manga: Essays on the Sexual Ambiguity and Cross-Cultural Fandom of the Genre”

51zzjxwchkl-_sx342_bo1204203200_

“Boys’ Love Manga: Essays on the Sexual Ambiguity and Cross-Cultural Fandom of the Genre”  được biên soạn bởi Antonia Levi, Mark McHarry, and Dru Pagliassotti (eds), xuất bản bởi Jefferson, N.C., and London: McFarland, 2010, ISBN 978-0-7864-4195-2 (pbk); 272 pp.; US$39.95

Bài review được viết bởi James Welker đăng trên tạp chí trực tuyến Intersections: Gender and Sexuality in Asia and the PacificIssue 27, November 2011.  Ông là giáo sư Khoa Cross-Cultural Studies (Nghiên cứu giao thoa văn hóa) tại Đại học Kanagawa ở Yokohama, Nhật Bản; là người đồng sáng lập và hiện đang là đồng chủ tịch của The Society for Queer Asian Studies (Hiệp hội Nghiên cứu đồng tính luyến ái châu Á –  SQAS), một chi nhánh của The Association for Asian Studies (Hiệp hội Nghiên cứu Châu Á – AAS).

Boys’ Love Manga : Essays on the Sexual Ambiguity and
Cross-Cultural Fandom of the Genre

Tạm dịch: “Manga Boys’ Love: Các tiểu luận về sự mơ hồ tình dục và
cộng đồng người hâm mộ giao thoa văn hóa của thể loại này”

Người dịch: Trịnh Minh Đỗ Uyên 
Cảnh báo: Chỉ đảm bảo 60-70% nội dung

Chúng ta đã phải chờ đợi quá lâu cho một tuyển tập các bài tiểu luận phê bình bằng tiếng Anh tập trung vào một thể loại manga (truyện tranh Nhật Bản), tùy thuộc vào lịch sử của thể loại này, được in ấn lần đầu tiên vào năm 1970 tại Nhật Bản và sau đó bắt đầu phát triển ra thế giới trong những năm 1990. [1] , “Boys’ Love Manga: Essays on the Sexual Ambiguity and Cross-Cultural Fandom of the Genre” (tạm dịch “Manga Boys’ Love: Các tiểu luận về sự mơ hồ tình dục và cộng đồng người hâm mộ giao thoa văn hóa của thể loại này”), biên soạn bởi Antonia Levi, Mark McHarry và Dru Pagliassotti nhận được sự chào đón đặc biệt. Trong khi các tiểu luận phê bình và phân tích về sự phát triển mạnh mẽ của thể loại này bằng tiếng Anh đã xuất hiện từ cuối những năm 1980, “Boys’ Love” vẫn là một lĩnh vực phức tạp và rộng lớn cho các bài nghị luận, chúng xứng đáng nhận được một sự chú ý bao quát và sâu sắc, điều mà chỉ một tuyển tập được biên soạn có thể cung cấp, ví dụ như tuyển tập này [2]. Và tôi chắc chắn rằng, tôi không phải là người duy nhất hy vọng sẽ có thêm nhiều quyển sách cùng chủ đề với quyển sách này.

Thuật ngữ “Boys’ Love” trong tiếng Anh, và “’Bōizu Rabu” trong tiếng Nhật, thường dùng để chỉ các câu chuyện hư cấu thương mại và nghiệp dư được thể hiện thông qua manga, anime (phim hoạt hình Nhật Bản), tiểu thuyết, video games và nhiều hình thức khác. Chúng miêu tả mối quan hệ lãng mạn, thường có yếu tố tình dục, giữa những người đàn ông với nhau. Trong khi, như tôi lưu ý dưới đây, có sự khác biệt quan trọng về đặc điểm khái quát và niên đại được thể hiện bằng tiếng Nhật, tiếng Anh và các ngôn ngữ khác, thông qua việc sử dụng các thuật ngữ khác nhau, nhưng vì lợi ích của việc đơn giản hóa, tôi sẽ làm theo chỉ dẫn của các biên tập viên và quy lĩnh vực rộng lớn này đơn giản chỉ là “boys’ love” . Trong tưởng tượng của phụ nữ, các tác phẩm boys’ love không phải là các câu chuyện về người đồng tính luyến ái nam (gay hoặc gei texts), đúng hơn, chúng chủ yếu được tạo ra bởi và phục vụ cho các cô gái trẻ và phụ nữ – trong khi hội chứng sợ hãi đồng tính công khai và bí mật đôi khi được sử dụng như một kỹ thuật cốt truyện (a plot device), chỉ một số ít các câu chuyện trực tiếp đề cập đến các vấn đề liên quan đến cuộc sống thực tế của người đồng tính luyến ái nam.

Như tiêu đề ngụ ý, trọng tâm của tuyển tập là manga boys’ love , mặc dù một số tác giả viết về manga – liên quan đến “fan fiction”, đó là những câu chuyện được sáng tác bởi người hâm mộ của một tác phẩm có sẵn, các nhân vật nguyên mẫu đã tồn tại được đặt vào những cốt truyện mới. Trong trường hợp của fan fiction boys’ love, thường xuyên nhất, các nguyên tác không phải là một tác phẩm boys’ love, chúng đơn giản là cung cấp nguyên liệu cho người hâm mộ tạo ra các câu chuyện của riêng họ. Phần lớn các tác giả của tuyển tập này tiết lộ, trực tiếp hay ngụ ý, họ cũng là một phần của cộng đồng người hâm mộ boys’ love, và tham gia vào một số trường hợp sáng tác thể loại này. Việc này mang đến cho độc giả của tuyển tập khá nhiều lợi ích: những kinh nghiệm thú vị trong việc đọc (và sáng tác) của tác giả chắc chắn sẽ được thể hiện thoáng qua trong những bài viết. Hơn nữa, rất nhiều tác giả có thể cung cấp những phân tích từ góc nhìn của người trong cuộc (insider’s perspective) hoặc ít nhất là ở vị trí quan sát viên tham dự thường được ủng hộ trong Nhân học. Mặt khác, vì quyển sách xuất hiện với tư cách một tài liệu học thuật, một số vấn đề còn mơ hồ được tìm thấy trong các bài viết trên blog của người hâm mộ và các tạp chí văn hóa phổ thông –  thường khá tốt, sẽ có sự khác biệt với cách tiếp cận từ truyền thống công trình học thuật. Hơn nữa, bài viết của người hâm mộ, như một số tiểu luận trong tuyển tập này, có mức độ quen thuộc cao hơn với độc giả của thể loại boys’ love so với độc giả thông thường của những tuyển tập học thuật như thế này. Các biên tập viên đã cố gắng giảm nhẹ phần nào sự phức tạp của vấn đề bằng cách cung cấp một danh mục chú giải thuật ngữ hữu ích ở phía sau tuyển tập. Một danh sách các họa sĩ /tác giả chủ chốt và những tác phẩm có ảnh hưởng được nhắc đến liên tục trong các chương và có lẽ một dòng thời gian (timeline) – quá trình hình thành và phát triển của boys’ love,  cũng sẽ rất hữu ích. Xin lưu ý rằng tôi đang review quyển sách này như một tài liệu học thuật từ quan điểm học thuật và các vấn đề như thế này có thể  ít hoặc không liên quan đến độc giả tiếp cận cuốn sách từ góc độ người hâm mộ boys’ love.

“Boys’ Love Manga” được chia thành ba phần: “Boys’ Love and Global Publishing” (tạm dich: Boys’ Love và  Ngành xuất bản toàn cầu), “Genre and Readership”  (tạm dich: Thể loại và Độc giả) và “Boys’ Love and Perceptions of the Queer” (tạm dịch: Boys’ Love và Nhận thức của người đồng tính luyến ái). Cách tiếp cận này giúp xác định vị trí của boys’ love như một thể loại toàn cầu, trước khi dẫn đến sự quan sát tỉ mỉ và cẩn thận những người đọc và tác phẩm của họ. Sau lời giới thiệu của Antonia Levi, mười bốn chương sử dụng phương pháp tiếp cận từ một số lĩnh vực, nổi bật nhất là phương pháp “đọc gần” (close reading) của Phê bình văn học và các cuộc điều tra cùng phỏng vấn sâu của Nghiên cứu tiếp nhận, cùng với lý thuyết và phương pháp luận của Nhân học, và các lĩnh vực nghiên cứu đồng tính luyến ái, nghiên cứu nữ quyền, các nghiên cứu điện ảnh và nghiên cứu truyền thông, tạo nên một tuyển tập mang tính liên ngành. Được xác định thuộc lĩnh vực có khá ít liên quan với nghiên cứu anime và manga, hầu hết các tiểu luận trong toàn bộ tuyển tập dành rất ít không gian để thảo luận về những hình vẽ. Trong khi, có lẽ thật đáng ngạc nhiên cho các nghiên cứu về phương tiện truyền thông nghe nhìn (visual medium) và tiểu thuyết (fiction) bắt nguồn từ đó (anime and manga), tuyển tập là dấu ấn của một lĩnh vực bao gồm phần lớn các cá nhân được đào tạo trong ngành văn học, mức độ ít liên quan hơn như nhân học và lịch sử, xa hơn là nghệ thuật hoặc lịch sử nghệ thuật.

Phần một gồm tiểu luận của Hope Donovan mang tên “Gift Versus Capitalist Economies: Exchanging Anime and Manga in the U.S.” (tạm dịch: Quà tặng miễn phí với Hàng hóa thương mại: Sự trao đổi anime và manga ở Hoa Kỳ), trong đó xem xét chi tiết sự tiêu thụ các sản phẩm manga và anime thường được sao chép bất hợp pháp tại Hoa Kỳ; tiểu luận của Paul M. Malone  là “’From BRAVO to Animexx.de to Export: Capitalizing on German Boys’ Love Fandom, Culturally, Socially and Economically”  (tạm dịch:  Từ BRAVO đến Animexx.de đến xuất khẩu: Tận dụng cộng đồng người hâm mộ Boys’ love  Đức, văn hóa, xã hội và kinh tế), trong đó làm rõ vị trí xã hội của cộng đồng người hâm mộ Boys’ love  ở Đức. Và tiểu luận của Yamila Abraham là “Boys’ Love Thrives in Conservative Indonesia”  (tạm dịch: Sự phát triển mạnh mẽ của boys’ love ở đất nước Indonesia bảo thủ), trong đó trình bày sự tiêu thụ boys’ love ở Indonesia dựa vào sự tương tác cá nhân của tác giả với các họa sĩ, những người đang sáng tác manga boys’ love để tiêu thụ ở nước ngoài. Ngoài ba quốc gia kể trên, các chương trong hai phần khác tập trung vào sự tiêu thụ và sản xuất  boys’ love tại Úc, Vương quốc Anh và không gian mạng nói tiếng Anh. Vì phần lớn các bài viết về manga và anime bằng tiếng Anh đặt trọng tâm vào cộng đồng Anh ngữ và Nhật Bản, tôi hy vọng các biên tập viên có thể tìm thấy các chuyên gia có khả năng viết về sự tiêu thụ boys’ love ở những ngôn ngữ và nền văn hóa khác. Sau khi được tiếp xúc với người hâm mộ, sinh viên và học giả về boys’ love ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Singapore và Thái Lan, tôi chắc chắn đây là một lĩnh vực xứng đáng để nghiên cứu. Nhiều độc giả của quyển sách này cũng có thể được hưởng lợi từ một cái nhìn tổng quan về boys’ love ở chính Nhật Bản, có lẽ bao gồm cả một lịch sử kỹ lưỡng hơn (xem bên dưới), một trong số đó được điều tra lướt qua trong phần giới thiệu mà Levi cung cấp.

Phần hai đưa ra vấn đề nghiên cứu về thể loại boys’ love và độc giả của nó, và chứa đựng hai chương hữu ích nhất của quyển sách. Một là tiểu luận của Dru Pagliassotti “Better Than Romance? Japanese BL Manga and the Subgenre of Male/Male Romantic Fiction” (tạm dịch: Hơn cả chuyện hư cấu lãng mạn? Manga BL Nhật Bản và tiểu thể loại của tiểu thuyết lãng mạn Nam/Nam). Bài viết sử dụng một cách hoàn toàn thuyết phục các tác phẩm của Janice Radway trong việc phân tích độc giả của tiểu thuyết lãng mạn, bên cạnh việc thực hiện một cuộc nghiên cứu về tiểu thuyết lãng mạn Nhật Bản và “slash fiction” tiếng Anh (giải thích dưới đây), cũng như những cuộc khảo sát sâu rộng của riêng tác giả về người đọc boys’ love trong cộng đồng Anh ngữ, để xác định vị trí manga và tiểu thuyết lãng mạn nam-nam như “một thể loại riêng biệt của văn học lãng mạn đại chúng (popular romance)” (tr. 59), một lĩnh vực đáng giá nhận được sự chú ý của học thuật nghiêm túc [3] Một tiểu luận khác của M.M. Blair mang tên “She Should Just Die in a Ditch: Fan Reactions to Female Characters in Boys’ Love Manga” (tạm dịch: Cô ta nên chết một cách kinh khủng:  Sự phản ứng của người hâm mộ đối với các nhân vật Nữ trong Manga Boys’ love). Bài viết kết hợp phân tích văn bản với một cuộc khảo sát độc giả cho thấy rằng, đôi khi sự ác cảm cực kỳ của độc giả nữ thể hiện trong các cuộc thảo luận trên những diễn đàn trực tuyến dành cho các nhân vật nữ hiếm hoi trong những tác phẩm boys’ love không phải là sản phẩm của việc thù ghét phụ nữ từ trong bản chất hoặc được tiếp thu một cách vô ý thức, đúng hơn, điều này phần lớn là một sự phản ứng đối với “các nhân vật được thiết kế để bị ghét” (p. 121). Trong khi các họa sĩ và học giả đã mô tả thể loại này thuộc chủ nghĩa nữ quyền, nghiên cứu của Blair cũng cho thấy điều đó, chúng ta không nên hiểu một cách thiếu phê phán như phản ứng tiêu cực của một bộ phận độc giả nữ vẫn đang tiếp tục chống lại luận điểm này.[4] Hai chương khác trong quyển sách này đặt boys’ love và slash fiction – fan fiction bên cạnh nhau. Trong đó slash fiction – fan fiction là một thể loại lâu đời bằng tiếng Anh, ghép đôi các nhân vật nam với nhau, như thuyền trưởng Kirk và Spock trong series Star Trek. Tiểu luận của Mark John Isola là “Yoi and Slash Fiction: Women Writing, Reading and Getting Off?” (tạm dịch: Yaoi và Slash Fiction: Viết, Đọc và Giải thoát Nữ giới”’; và tiểu luận của Marni Stanley mang tên “101 Uses for Boys: Communing with the Reader in Yaoi and Slash” (tạm dịch: 101 lợi ích cho các chàng trai: Liên hệ với người đọc Yaoi và Slash).  Chương cuối cùng, là tiểu luận của Tan Bee Kee mang tên “Rewriting Gender and Sexuality in English-Language Yaoi Fan Fiction” (tạm dịch: Sự viết lại vấn đề giới và tình dục trong Yaoi fan fiction tiếng Anh”, cung cấp một nghiên cứu rất kỹ lưỡng về giới và tình dục trong fan fiction trực tuyến bằng tiếng Anh dựa trên những manga phi boys’ love (non-boys’ love) Weiß Kreuz (German for ‘white cross’), một câu chuyện đã được xuất bản lần đầu tiên tại Nhật Bản dưới hình thức manga vào năm 1997, các nhân vật và cốt truyện nguyên mẫu đã được thêm thắt và thay đổi trong hàng ngàn fan fiction tiếng Anh trên các trang web khác nhau.

Phần cuối cùng của quyển sách trình bày những khám phá về khả năng “đồng tính luyến ái” (“queer” potential) của boys’ love, mặc dù một số chương có thể dễ dàng được đặt ở những phần trước để nhấn mạnh về phản ứng của người đọc. Các chương này nghiên cứu, như là trọng tâm, hoặc một phần của trọng tâm trong lập luận của người viết, về mức độ mà các tác phẩm boys’ love thực hiện một trong hai khả năng: thể hiện về hội chứng sợ hãi và kỳ thị đồng tính luyến ái, hoặc miêu tả về không gian tự do của queer cho độc giả, một trong số đó cho phép độc giả sử dụng các câu chuyện để khám phá về sự đa dạng của những lựa chọn tình dục và giới tính theo quy chuẩn hiện hành, có thể thông qua căn tính queer (queer indentity) của chính các độc giả. Sáu chương là “’Uttering the Absurd, Revaluing the Abject: Femininity and the Disavowal of Homosexuality in Transnational Boys’ Love Manga” (tạm dịch: Thốt ra lời vô nghĩa, đánh giá lại điều đáng khinh: Nữ tính và sự chối bỏ Đồng tính luyến ái trong Manga Boys’love xuyên quốc gia) của Neil K. Akatsuka;  “Boys in Love in Boys’ Love:  Discourses West/East and the Abject in Subject Formation” (tạm dịch: Các chàng trai rơi vào tình yêu trong Boys’ love: Đàm thoại Tây / Đông và sự thấp kém trong hình mẫu lệ thuộc) của Mark McHarry; “Queering the Quotidian: Yaoi, Narrative Pleasures and Reader Response” (tạm dịch:  Đồng tính hóa sự thường nhật: Yaoi, Khoái cảm hư cấu và Phản ứng của độc giả) của Mark Vicars and Kim Senior;  “Gay or Gei? Reading “Realness” in Japanese Yaoi Manga” (tạm dịch: Gay hay Gei? Tìm hiểu “sự thật” trong Manga Yaoi Nhật Bản) của Alexis Hall; “Raping Apollo: Sexual Difference and the Yaoi Phenomenon” (tạm dịch: Cưỡng bức Apollo: Sự khác biệt tình dục và hiện tượng Yaoi) của Alan Williams; “Hidden in Straight Sight: Trans*gressing Gender and Sexuality via BL” (tạm dịch: Tiềm ẩn trong góc nhìn dị tính luyến: Xuyên giới tính và tình dục trong Boys’ love) của Uli Meyer. Trong đó, tiểu luận của Meyer đưa ra đề nghị khá khiêu khích rằng các độc giả của boys’ love có thể mang căn tính không phải dị tính luyến ái (giả định của hầu hết các học giả), họ có thể là đồng tính luyến ái nữ (lesbian) hay song tính luyến ái (bisexual) (một khả năng hiếm thấy hơn), giống như “girlfags and transfags, i.e., female-born persons who eroticize and identify with gay men” (tạm dịch: girlfags* and transfags**, i.e., phụ nữ bẩm sinh là những người bị thu hút và đồng cảm với những người đàn ông đồng tính) (p. 232). Lập luận này tương tự với quan điểm của người hâm mộ kiêm nhà phê bình (fan-cum-critic) Mizuma Midory, người đã từ lâu khẳng định sự tồn tại của một “sự ưu tiên cho shounen ai (boys’ love)” hoặc “shounen ai Shiko” có vẻ ngang tầm với các “sở thích tình dục” khác (seiteki Shiko). [5]

Mặc dù tôi có lời khen ngợi dành cho những biên tập viên Levi, McHarry, và Pagliassotti, vì đã tiên phong trong việc thực hiện tuyển tập và thu thập thông tin trên một phạm vi rộng lớn với nhiều phương pháp tiếp cận, nhưng quyển sách sẽ hữu dụng thêm nữa nếu được chỉnh sửa mạnh tay hơn. Thật không may, chất lượng của các chương thay đổi đáng kể và sự không thống nhất trong phong cách sử dụng các thuật ngữ đôi khi làm người đọc khó hiểu và mất tập trung. Ví dụ, trong khi hầu hết các văn bản học thuật về văn hóa Nhật Bản, tên riêng của người Nhật được viết với quy tắc Nhật Bản là họ trước tên sau, thì trong bài viết của người hâm mộ và bản dịch trật tự này thường bị đảo ngược. [6]

Quan trọng hơn, từng tác giả dường như làm việc với các định nghĩa riêng của họ về “boys’ love” và những biến thể, mặc dù ít khi giải thích trực tiếp và rõ ràng những gì họ muốn nói, làm cho người đọc phải lần mò đoán xem chương này đang tập trung vào các tác phẩm thương mại hay nghiệp dư phi lợi nhuận; tác phẩm manga hay văn xuôi tiểu thuyết; tác phẩm nhấn mạnh yếu tố tình dục hay yếu tố tình yêu lãng mạn, hoặc kết hợp cả 2 điều đó. Nếu không có một số tác giả đã viết rõ ràng và không có sự giải thích về những thuật ngữ khác nhau được đề cập đầy đủ trong phần giới thiệu, sẽ rất dễ dàng đi lạc khi đọc quyển sách này và không thể hiểu được sự khác biệt giữa các thể loại chính: shounen ai, yaoi, và boys’ love/ BL [7] Chắc chắn rằng, rất nhiều người hâm mộ cũng sử dụng những thuật ngữ này một cách khá tùy tiện và thay thế chúng cho nhau (bằng tiếng Nhật, tiếng Anh, và có lẽ các ngôn ngữ khác) để chỉ những tác phẩm thương mại và phi lợi nhuận, trong hiện tại và quá khứ, thuộc cùng một lĩnh vực rộng lớn hơn chủ đề của khoái lạc tình dục và sự lãng mạn nam-nam chủ yếu dành cho tiêu dùng nữ giới. Nhưng sự phân biệt giữa những tác phẩm này, cực kỳ khác nhau về nội dung và thể loại, thường rất quan trọng và khá liên quan đến các lập luận và chủ đề bài viết của những tác giả trong từng chương sách.

Sự khác biệt về tên gọi giữa các tiểu thể loại và hình thức điển hình thể hiện chức năng lịch sử cụ thể của chúng. Trong phần giới thiệu Levi đã cung cấp một lịch sử lướt qua về boys’love, theo nghĩa rộng, nó sẽ rất hữu ích cho người đọc nếu có một lịch sử sâu sắc hơn. Lịch sử hoàn chỉnh nhất bằng tiếng Anh về boys’ love có lẽ là một bài viết hiện nay phần nào đã lỗi thời của Akiko Mizoguchi (được trích dẫn ở một số chương trong quyển sách), nhưng có một số thông tin lịch sử mang tính đại chúng lẫn học thuật khá hữu ích được viết bằng tiếng Nhật mà Levi và các tác giả khác đã đề cập (ít nhất một số người có thể đọc tiếng Nhật) [8] Tôi tin rằng việc ý thức hơn về lịch sử và phân biệt các thể loại có thể giúp ngăn chặn sự nhập nhằng giữa hai thể loại khác nhau rất hiển nhiên trong một số chương. Cảm giác tốt hơn về lịch sử, ví dụ, trong nỗ lực rất đáng hoan nghênh của Stanley cho “101 Uses for Boys”, để tăng cường một ý thức mạnh mẽ hơn của jouissance về tiêu dùng và sản xuất boys’ love và slash fiction cùng với việc phê phán những gì cô thấy như một sự bệnh hoạn hóa (pathologisation) của độc giả yaoi và slash fiction bởi các nhà phê bình. Tuy nhiên, như là bằng chứng của pathologisation này, Stanley cung cấp và chỉ trích bài viết khá sớm của Midori Matsui tập trung vào khía cạnh đen tối của shounen-ai thương mại trong những năm 1970 và 1980, những tác phẩm được phát triển ban đầu như là một phản ứng chống lại hàng loạt các tiêu chuẩn dành cho phụ nữ và các cô gái trẻ trong giai đoạn đó, và chúng thiếu vắng sự vui thú của những tác phẩm yaoi nghiệp dư trong những năm 1980 và sau này. [9]

Bất kể những thiếu sót như trên, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng quyển sách “Boys’ Love Manga” là một đóng góp rất đáng hoan nghênh trong lĩnh vực nghiên cứu manga và anime. Một vài điều trong quyển sách đặc biệt cung cấp cho các học giả nghiên cứu về giới và tình dục, toàn cầu hóa, và các phương tiện truyền thông mới. Mặc dù, quyển sách có thể được bán với giá khá cao đối với nhiều người hâm mộ boys’love (một tỷ lệ lớn trong số họ, như Donovan giải thích trong chương của mình, từ lâu đã quen với việc đọc và xem các tài liệu được tải xuống trái phép từ mạng internet, họ phải trả tiền rất ít hoặc được miễn phí hoàn toàn), đây vẫn là một quyển sách có thể cung cấp cho họ nhiều thông tin hữu ích. Và, như tôi đã nói ở trên, tôi hy vọng trong quyển sách đầu tiên này, tập thể tác giả đã chứng minh được rằng boys’ love là một chủ đề xứng đáng được nghiên cứu nghiêm túc.

Chú thích

* Girlfag là một người phụ nữ bị thu hút mạnh mẽ bởi những người đàn ông đồng tính hoặc song tính luyến ái, cô ấy có thể (hoặc không) nghĩ mình là một người đồng tính luyến ái nam  đang sống trong thân xác một phụ nữ. Đầu tiên, căn tính của những girlfag được xem như là người đồng tính luyến ái. Họ thường bị thu hút bởi nhiều dạng người, chứ không chỉ là đàn ông đồng tính, song tính hay chuyển giới.

** Transfag là một người chuyển giới, thường là đàn ông chuyển giới, bị thu hút bởi những người có cùng giới tính sinh học (same sex). (Không phải là giới (gender) bẩm sinh, mà là giới (gender) họ đã/ đang hoặc muốn trở thành).

[1] Một trong những tổng quan lịch sử hoàn chỉnh nhất về boy’s love bằng tiếng Anh là của Akiko Mizoguchi, “Male-male romance by and for women in Japan: a history and the subgenres of yaoi fictions”, trong Tạp chí U.S.-Japan Women’s, vol. 25 (2003): 49-75. Mizoguchi viết khá mơ hồ, tuy nhiên, khi tác phẩm manga  boys’ love đã được xuất bản lần đầu tiên. Nghiên cứu tiếp theo của người hâm mộ và các học giả đã có thể điền vào một số khoảng trống trong bài luận của Mizoguchi, và được xác định với Takemiya Keiko rằng ‘Yuki to hoshi to tenshi to…’ (Tuyết và các ngôi sao và các thiên thần  và …) trong các tiểu luận tháng 12 năm 1970 của Tạp chí shōjo manga Bessatsu shōjo komikku (Girls comic special edition – phiên bản đặc biệt của truyện tranh nữ giới), như câu chuyện manga lãng mạn nam-nam đầu tiên cho các cô gái. Tác phẩm này được tái bản với tên ‘Sanrū’mu nite’ (Trong phòng sưởi nắng), trong Takemiya’s Sanrūmu nite của, Tokyo: San Komikkusu, 1976, trang 5-54..

Mizoguchi và những người khác đã phân loại một số tiểu thuyết miêu tả tình yêu nam-nam khá sớm từ những năm 1960 được viết bởi nữ nhà văn Mori Mari như là một tiền thân hoặc một phần trong giai đoạn đầu của thể loại này. Tuy nhiên, những người khác, bao gồm cả Ishida Minori trong bài viết của cô mang tên “Hisoyaka na kyōiku: ‘yaoi/bōizu rabu’ zenshi” (A secret education: the pre-history of yaoi/boys’ love – tạm dịch:  Một thông tin bí mật: tiền lịch sử của yaoi/boys’love), Tokyo: Rakuhoku Shuppan, năm 2008, đã chứng minh rằng các câu chuyện manga boys’love sớm nhất được vẽ trực tiếp từ tiểu thuyết và phim ảnh châu Âu miêu tả những nam sinh xinh đẹp, đôi khi họ được thể hiện là yêu nhau, và trong các bài viết của nhà văn kiêm nhà phê bình Inagaki Taruho.

[2] Bài tiểu luận học thuật đầu tiên bằng tiếng Anh về chủ đề này có lẽ thuộc về Tomoko Aoyama, “’Male homosexuality as treated by Japanese women writers” in The Japanese Trajectory: Modernization and Beyond, ed. Gavin McCormack and Yoshio Sugimoto, Cambridge: Cambridge University Press, 1988, pp. 186–204.

[3] Janice A. Radway, Reading the Romance: Women, Patriarchy, and Popular Literature, Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1984.

[4] Ví dụ, họa sĩ nổi tiếng Takemiya Keiko mô tả thể loại này thuộc chủ nghĩa nữ quyền trong bài viết của mình là “Josei wa gei ga suki?” (Do women like gays? – tạm dịch: Phụ nữ có giống như/ thích gays hay không?), in Bungei shunshū, vol. 71, no. 6 (June 1993): 82–83; và Mizoguchi Akiko mô tả “yaoi” (thuật ngữ cô sử dụng đồng nghĩa với boys’love) như một thể loại đồng tính nữ – nữ quyền (lesbian-feminist). See her ‘Mōsōryoku no potensharu: rezubian feminisuto janru toshite no yaoi’ (Delusional potential: yaoi as a lesbian-feminist genre), in Yuriika, vol. 39, no. 7 (June 2007):56–62.

[5] Mizuma Midory, In’yu toshite no shōnen ai: josei no shōnen ai shikō to iu genshō (Shōnen ai as metaphor: the phenomenon of females’ preference for shōnen ai) Tokyo: Sōgensha, 2005.  Mizuma đầu tiên đề xuất điều này trong một loạt các bài báo khoảng nửa đầu những năm 1990 trong báo cáo thường niên của Women’s Studies Society of Japan, Joseigaku, Joseigaku nenpō (Hiệp hội Nghiên cứu phụ nữ Nhật Bản), dưới bút danh Tanigawa Tamae.

[6] Thật vậy, ít nhất một chương trong cuốn sách này, một tác giả dường như không quen với quy tắc gọi tên riêng của người Nhật Bản, đề cập đến một số học giả Nhật Bản bằng tên chứ không phải họ, thậm chí nhầm lẫn trong việc trích dẫn trực tiếp từ những nghiên cứu tiếng Anh khác, đã thay thế họ của những học giả bằng tên gọi. Trong một số chương khác, các học giả Nhật Bản, nhưng thường viết tiếng Anh và sử dụng tên tiếng Anh,  bị đảo ngược tên một cách không cần thiết.

[7] “Shounen ai” (boys love) là một trong những tên gọi sớm nhất bằng tiếng Nhật cho các tác phẩm thương mại nói chung thường nhấn mạnh yếu tố tình yêu lãng mạn hơn tình dục, và được sáng tạo ra bởi các họa sĩ thuộc dòng chính thống, những người đã tham gia sáng tác nhiều thể loại truyện khác nhau. Thuật ngữ này được sử dụng ít dần tại Nhật Bản, có lẽ một phần vì loại hình của các tác phẩm, thường là khá hoa mỹ về nội dung, không còn phổ biến. “Yaoi”, một cụm từ viết tắt có nghĩa là  “’no climax, no punchline, no meaning” (không cao trào, không kịch tính, không có ý nghĩa) lần đầu tiên được áp dụng cho nhiều câu chuyện tường thuật manga nghiệp dư lưu hành ở những nơi như Comic Market Tokyo (1975-) nhưng trong những năm 1980, thuật ngữ Yaoi được liên hệ đặc biệt với các câu chuyện khiêu dâm nam-nam. See Hatsu Akiko, ‘Yaoi no moto wa “share” deshita: hatsu kōkai: yaoi no tanjō’ (The origin of yaoi was a ‘joke’: the birth of yaoi made public for the first time), June, no. 73 (November 1993): 136. “Boy’s love” (sic) lần đầu tiên được sử dụng rõ ràng trong năm 1991 như là một thẻ trực tuyến (tag-line) trên số đầu tiên của tạp chí ảnh manga thương mại (Imaaju) trước khi được phiên âm thành “bōizu rabu”. See Yamamoto Fumiko and BL Sapōtaazu, Yappari, bōizu rabu ga suki: kanzen BL komikku gaido (Indeed, we do like boys love: a complete guide to BL comics), Tokyo: Ōta Shuppan, 2005, p. 14. It is often abbreviated to ‘BL’ (in Japanese, pronounced ‘bii eeru’).

Cả hai từ “yaoi” và đặc biệt là “boy’s love” đôi khi cũng được sử dụng để đặt tên anime (phim hoạt hình Nhật Bản), trò chơi, fiction và các sản phẩm liên quan khác. Có một sự phân biệt ở Nhật Bản giữa hai thuật ngữ đương đại, “yaoi” có xu hướng được sử dụng để chỉ các tác phẩm nghiệp dư, và “boy’s love”(tức “bōizu Rabu” hoặc BL) cho các tác phẩm thương mại. Một số tác giả cũng như các biên tập viên (trong phần chú giải) chỉ ra rằng việc sử dụng các thuật ngữ trong tiếng Anh và các ngôn ngữ khác không được hệ thống như cách chúng được sử dụng trong tiếng Nhật.

[8] Xem Mizoguchi, “’Male-male romance by and for women in Japan” (tạm dịch: Tình yêu lãng mạn Nam-nam được sáng tạo bởi vàcho phụ nữ ở Nhật Bản) Một lịch sử đầy đủ của sự sáng tạo shounen ai – được cung cấp như là một “tiền – lịch sử của yaoi / BL, có thể được tìm thấy trong Ishida, Hisoyaka na kyōiku. Lịch sử phổ thông hữu ích của yaoi và BL có thể được tìm thấy trong Itō Gō, Manga wa kawaru: ‘manga gatari’ kara ‘manga ron’ e (Manga changes: from ‘manga talk’ to ‘manga discourse’), Tokyo: Seidōsha, 2007, pp. 213–27; Yamamoto and BL Sapōtaazu, Yappari, bōizu rabu ga suki; and Nishimura, Aniparo to yaoi.

[9] Midori Matsui, “’Little girls were little boys: displaced femininity in the representation of homosexuality in Japanese girls’ comics” (tạm dịch: “Bé gái là bé trai: Sự dịch chuyển nữ tính khi hình dung về đồng tính luyến ái trong truyện tranh thiếu nữ Nhật Bản) trong Feminism and the Politics of Difference, ed. Sneja Gunew and Anna Yeatman, Boulder, Colo.: Westview Press, 1993, pp. 177–96.

Đề cương luận văn “Hiện tượng Boy’s love và ảnh hưởng đối với văn hóa Việt Nam”

Cảnh báo:  Đề cương chưa hoàn chỉnh, chưa hoàn chỉnh, chưa hoàn chỉnh
*chuyện quan trọng nhấn mạnh 3 lần*

biadecuong

 DẪN NHẬP.. 1

1. Lý do chọn đề tài 1

2. Mục đích nghiên cứu. 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 2

4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 3

4.1. Những công trình nghiên cứu về giới 3

4.2. Những công trình nghiên cứu về văn hóa đại chúng. 4

4.3. Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa giới và văn hóa đại chúng. 5

4.4. Những công trình nghiên về hiện tượng Boy’s love. 6

5. Khung lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu. 9

5.1. Khung lý thuyết 9

5.2. Giả thuyết nghiên cứu. 9

5.3. Phương pháp nghiên cứu. 10

5.4. Nguồn tư liệu. 11

6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn. 11

7. Bố cục và quy cách trình bày luận văn. 11

CHƯƠNG 1:  CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN.. 13

1.1.  Cơ sở lý luận. 13

1.1.1.  Giới và nghiên cứu về giới 13

1.1.2.  Văn hóa đại chúng và nghiên cứu về văn hóa đại chúng. 13

1.1.3.  Khái niệm Boy’s love và nhận diện hiện tượng Boy’s love. 13

1.1.4.  Mối quan hệ giữa giới và văn hóa đại chúng. 13

1.2.  Cơ sở thực tiễn. 13

1.2.1.  Điều kiện hình thành hiện tượng Boy’s love. 13

1.2.2.  Đối tượng quyết định hiện tượng Boy’s love. 13

1.2.3.  Quá trình phát triển hiện tượng Boy’s love. 13

Tiểu kết chương 1. 13

CHƯƠNG 2:  ĐẶC ĐIỂM CỦA HIỆN TƯỢNG BOY’S LOVE.. 13

2.1. Sự kiện văn hóa được tạo thành từ hiện tượng Boy’s love. 13

2.1.1.  Những thể loại 13

2.1.2.  Những kiểu thức. 13

2.2.  Sản phẩm văn hóa được tạo thành từ hiện tượng Boy’s love. 13

2.2.1.  Những hình tượng. 13

2.2.2.  Những biểu tượng. 13

2.3.  Tâm thức văn hóa chi phối hiện tượng Boy’s love. 13

2.3.1. Những giá trị và niềm tin có thể thay đổi 13

2.3.2. Những giá trị và niềm tin mang tính bền vững. 13

Tiểu kết chương 2. 13

CHƯƠNG 3:  ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆN TƯỢNG BOY’S LOVE TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM… 14

3.1.  Hoàn cảnh xuất hiện và quá trình phát triển của hiện tượng Boy’s love ở Việt Nam.. 14

3.1.1.  Hoàn cảnh xuất hiện. 14

3.1.2.  Quá trình phát triển. 14

3.2.  Những lĩnh vực văn hóa chịu sự ảnh hưởng của hiện tượng Boy’s love ở Việt Nam.. 14

3.2.1.  Lĩnh vực văn hóa vật chất 14

3.2.2.  Lĩnh vực văn hóa tinh thần. 14

3.3.  Đánh giá tác động của hiện tượng Boy’s love đến Việt Nam.. 14

3.3.1.  Những hệ quả tích cực. 14

3.3.2.  Những hệ quả tiêu cực. 14

Tiểu kết chương 3. 14

KẾT LUẬN.. 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO… 15

1. Tiếng Việt 15

2. Tiếng Anh  17

DẪN NHẬP

1. Lý do chọn đề tài

Từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, thế giới đã và đang chứng kiến sự bùng nổ của văn hóa đại chúng ở nhiều quốc gia. Nhiều hiện tượng văn hóa nhanh chóng lan rộng khắp toàn cầu, vượt qua mọi biên giới lãnh thổ nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đặc biệt là mạng internet. Một trong những hiện tượng văn hóa nói trên là Boy’s love. Đây là một hiện tượng văn hóa đại chúng không thuộc dòng văn hóa chính thống, bao gồm những sản phẩm giải trí có nội dung thể hiện tình yêu lãng mạn giữa các chàng trai với nhau, được sáng tạo và tiếp nhận chủ yếu bởi phụ nữ.

Hiện tượng Boy’s love nhận được khá nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau như  tâm lý học, xã hội học, tính dục học, văn học… Tuy nhiên, việc nghiên cứu hiện tượng Boy’s love vẫn còn là điều khá mới ở Việt Nam. Hiện nay ở nước ta hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về lĩnh vực này.

Mặc dù những sản phẩm Boy’s love như truyện tranh (manga) và phim hoạt hình (anime) Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, nhưng không được biết đến rộng rãi trong xã hội. Bởi vì hiện tượng này liên quan đến những vấn đề vẫn còn gây tranh cãi trong xã hội Việt Nam như tình yêu đồng giới, tình dục của phụ nữ. Chỉ đến thời gian gần đây, khi những quyển tiểu thuyết Đam mỹ của Trung Quốc được xuất bản khá nhiều, thì truyền thông đại chúng mới bắt đầu nhắc đến hiện tượng Boy’s love. Tuy nhiên, những thông tin cung cấp về hiện tượng văn hóa này vô cùng phiến diện và sai lệch. Bên cạnh đó, trong thời đại quyền bình đẳng giới đang được đề cao, không chỉ là quyền bình đẳng giữa nam và nữ, mà còn cả quyền bình đẳng giữa người đồng tính và người dị tính, đòi hỏi phải có những nghiên cứu liên quan đến các hiện tượng văn hóa góp phần vào phong trào đấu tranh giành lại các quyền cơ bản này, mà một trong những hiện tượng văn hóa đó là Boy’s love. Cho nên, việc nghiên cứu hiện tượng Boy’s love ở Việt Nam hiện nay là cần thiết.

Luận văn tập trung nghiên cứu Hiện tượng “Boy’s love” và ảnh hưởng đối với Việt Nam (trường hợp “Yaoi/Shounen-ai” của Nhật Bản) từ góc nhìn văn hóa học, cố gắng trình bày về vấn đề này một cách toàn diện và đúng đắn, bước đầu tìm hiểu một đề tài mới ở Việt Nam.

2. Mục đích nghiên cứu

Luận văn tìm hiểu hiện tượng Boy’s love trên thế giới thông qua một trường hợp điển hình của hiện tượng này là Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản, chú ý nhấn mạnh đến những ảnh hưởng của hiện tượng này đến Việt Nam, góp phần vào công việc nghiên cứu một hiện tượng văn hóa đại chúng đang phát triển trên phạm vi toàn cầu, cố gắng cung cấp những kiến thức về hiện tượng Boy’s love một cách hệ thống nhất từ những biểu hiện bên ngoài đến những ý nghĩa bên trong liên quan đến phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng giới hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiện tượng Boy’s love thông qua trường hợp Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản. Luận văn chọn Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản vì đây là thành tố quan trọng và nổi bật trong hiện tượng Boy’s Love, có ảnh hưởng đầu tiên ở Việt Nam, đặt nền tảng và tạo điều kiện cho Boy’s love của các quốc gia khác đến Việt Nam, bên cạnh đó Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản cũng lan rộng mạnh mẽ trên thế giới và nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học. Luận văn trình bày những vấn đề cơ bản một cách tổng quát về hiện tượng Boy’s love qua ví dụ điển hình là Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản, đồng thời phân tích những ảnh hưởng của hiện tượng này đến Việt Nam từ năm 2000 đến nay.

Luận văn tập trung nghiên cứu hiện tượng Boy’s love ở Nhật Bản thông qua trường hợp Yaoi/Shounen-ai, chú ý mối quan hệ và tương quan so sánh về hiện tượng này ở những quốc gia khác có nền văn hóa đại chúng phát triển và ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan… Thời gian được tính từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, đây thời kỳ mở rộng của văn hóa đại chúng với sự xuất hiện của máy tính và mạng internet. Phần lớn đối tượng sáng tạo và tiếp nhận những sản phẩm Boy’s love là phụ nữ, cho nên họ được xem là chủ thể của hiện tượng này.

Về cách gọi Boy’s love, Yaoi và Shounen-ai: luận văn xin phép không dùng cách gọi đã được dịch sang tiếng Việt của các thuật ngữ này như “tình trai”, “thiếu niên/nam luyến”, “nam nhân luyến” hay “tình cảm/yêu nam nam”, mà sử dụng trực tiếp các thuật ngữ gốc tiếng Anh hoặc tiếng Nhật, vì những lý do sau: Thứ nhất, các cách gọi đã được dịch sang tiếng Việt chưa phổ biến ở Việt Nam, thiếu mỹ cảm, chưa cô đọng hoặc mang yếu tố phiên âm Hán – Việt quá nặng. Thứ hai, Boy’s love, Yaoi và Shounen-ai là cách gọi chung, phổ biến và dễ hiểu trên thế giới, đã được sử dụng chính thức trong các công trình nghiên cứu khác về lĩnh vực này.

4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong phạm vi tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh có thể bao quát, luận văn tiến hành phân chia tài liệu tham khảo theo bốn mảng nội dung: (1) Những công trình nghiên cứu về giới, (2) Những công trình nghiên cứu về văn hóa đại chúng, (3) Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa giới và văn hóa đại chúng, (4) Những công trình nghiên cứu về hiện tượng Boy’s love.

4.1. Những công trình nghiên cứu về giới

Ở Việt Nam, cho đến nay đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về đề tài này như: Xã hội học về giới và phát triển của Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2001), Tìm hiểu xã hội học về giới của Trần Hồng Vân (2001), Nghiên cứu gia đình, Lý thuyết nữ quyền, quan điểm giới của Lê Ngọc Văn (2006), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới: Lý thuyết và thực tiễn của Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng (2006), Những vấn đề giới: Từ lịch sử đến hiện đại của Cơ quan phát triển quốc tế Canada và Viện chủ nghĩa xã hội khoa học (2007), Khoa học giới: Những vấn đề lý luận và thực tiễn: Sách chuyên khảo dành cho hệ nghiên cứu sinh và cao học của Trịnh Quốc Tuấn và Đỗ Thị Thạch (2008), v.v…

Ở nước ngoài, vấn đề về giới đã được nghiên cứu khá nhiều, chẳng hạn trong các công trình như: Gender, Bodies and Work của David Morgan, Berit Brandth, Elin Kvande (2005), Gender and Rights, Gender and Planning: A Reader Gender của Susan S. Fainstein and Lisa J. Servon (2005), Sex Differences and Similarities in Communication của Kathryn Dindia, Daniel J. Canary (2006), Culture and Society: Contemporary Femininities and Masculinities của Mairtin Mac Ghaill, Chris Haywood (2007), Sexuality, Gender and Rights: Exploring Theory and Practice in South and Southeast Asia của Geetanjali Misra, Radhika Chandiramani (2007), v.v…

Những công trình nghiên cứu về giới ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã được nghiên cứu khá toàn diện và sâu sắc. Các nhà khoa học đã cung cấp cho người đọc những khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu hiệu quả từng lĩnh vực cụ thể về giới, cũng như khái quát tổng thể vấn đề này. Các nghiên cứu được thực hiện dưới nhiều góc độ như tâm lý học, xã hội học, văn hóa học, nhân học… cho thấy phụ nữ ngày càng có nhiều ảnh hưởng trong xã hội trong các vấn đề chính trị, quy hoạch đô thị, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học… Tuy nhiên, bất bình đẳng giới vẫn đang diễn ra và cần có những biện pháp để thay đổi tình trạng này.

4.2. Những công trình nghiên cứu về văn hóa đại chúng

Ở Việt Nam, hiện nay có một số công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa đại chúng như: Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay của Trần Ngọc Tăng (2001), Truyền thông đại chúng của Tạ Ngọc Tấn (2001)… Bên cạnh đó, còn có những bài viết trên các tạp chí khoa học như:  Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng của Mai Quỳnh Nam (2000), Truyền thông đại chúng trong xã hội hiện đại của Trần Hữu Quang (2008)… Các công trình, bài viết này tập trung vào truyền thông đại chúng, báo chí và truyền hình. Một số nghiên cứu đi sâu vào các vấn đề mang tính lý luận của truyền thông Việt Nam, nêu lên những đặc điểm, vai trò, mối quan hệ giữa truyền thông và sự phát triển xã hội, mức độ hiệu quả của sự tương tác giữa các phương tiện truyền thông và công chúng ở Việt Nam.

 Ở các quốc gia khác, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa đại chúng như: Popular Culture. Introductory Perspectives của Marcel Danesi (2008), Mirror on America: Essays and Images from Popular Culture của Joan MimsElizabeth Nollen (2009), The Rhetorical Power of Popular Culture của Deanna D. Sellnow (2010), The Pop Culture Zone: Writing critically about Popular Culture của Allison D. SmithTrixie G. Smith (2009), Cultural Theory and Popular Culture của John Storey (2006), Discovering Popular Culture của Anna Tomasino (2007), v.v… Những công trình giới thiệu một loạt các lý thuyết và phương pháp khoa học để nghiên cứu văn hóa đại chúng trong từng lĩnh vực cụ thể như truyền thông, báo chí, âm nhạc, phim ảnh, truyện tranh, quảng cáo… đồng thời khái quát toàn diện các vấn đề văn hóa đại chúng.

4.3. Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa giới và văn hóa đại chúng

Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu vấn đề này tập trung phân tích về mỗi quan hệ giữa hình ảnh của phụ nữ, cộng đồng LGBT (cụm từ viết tắt của Lesbian, Gay, Bisexal, Transgender – những người đồng tính, song tính và chuyển giới) trên các phương tiện truyền thông đại chúng và vấn đề bình đẳng giới, đồng thời đưa ra một số khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận vấn đề giới trong một số lĩnh vực cụ thể của văn hóa đại chúng là báo chí và truyền hình. Các nghiên cứu đã được công bố như. Cân bằng giới và truyền thông: Sự khác nhau trong cách tham gia và truyền thông giữa nam giới và nữ giới của Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam – Thuỵ Điển (1998), Giới, truyền thông và phát triển của Viện nghiên cứu gia đình và giới (2003), Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ của Hoàng Bá Thịnh (2005), Hình ảnh phụ nữ qua các phương tiện thông tin đại chúng và tác động của nó đến nhận thức bình đẳng giới của người dân của Hà Thị Minh Khương, Võ Kim Hương và Đào Hồng Lê (2008), v.v…

Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu như: Feminism, femininity and popular culture của Joanne Hollows (2000), Interrogating Postfeminism: Gender and the Politics of Popular Culture của Yvonne Tasker và Diane Negra (2007) Dangerous Curves: Action Heroines, Gender, Fetishism, and Popular Culture của Jeffrey A. Brown (2011), Gender, Violence and Popular Culture: Telling Stories của Laura J. Shepherd (2012), Gender and Popular Culture của Katie Milestone và Anneke Meyer (2013),  Gender & Pop Culture: A Text-Reader của Adrienne Trier-Bieniek (2014), v.v… Đã khái quát một cách toàn diện mối quan hệ giữa giới và văn hóa đại chúng, cung cấp nền tảng cho công tác nghiên cứu về vấn đề này từ cơ sở lý luận như lý thuyết, hướng tiếp cận, phương pháp, khái niệm… đến cơ sở thực tiễn về những lĩnh vực cụ thể trong văn hóa đại chúng như quảng cáo, âm nhạc, báo chí, phim ảnh…

4.4. Những công trình nghiên về hiện tượng Boy’s love

4.4.1. Những công trình nghiên cứu trực tiếp về hiện tượng Boy’s love.

Những nghiên cứu về Boy’s love được thực hiện ở nước ngoài như: Productive (cyber) Public Space: Slash Fan Fiction’s Multiple Imaginary của Anne M. Kustritz (2007), Japanese Boy-love Manga and the Global Fandom: A Case Study of Chinese Female Readers của Yannan Li (2009), Boys’ Love Manga: Essays on the Sexual Ambiguity and Cross-Cultural Fandom of the Genre của  Antonia Levi, Mark McHarry và Dru Pagliassotti (2010), Writing the Love of Boys: Origins of Bishonen Culture in Modernist Japanese Literature của Jeffrey Angles (2011),  Boys’ Love in Girls’ Hands: The Survival of a Gendered Youth Culture in Mainland China and Hong Kong của Liu Ting (2011),  Naughty Girls and Gay Male Romance/Porn: Slash Fiction, Boys’ Love Manga, and Other Works by Female “Cross-Voyeurs” in the U.S. Academic Discourses của  Carola Katharina Bauer (2012), Fantasies of Cross-dressing: Japanese Women Write Male-Male Erotica của Kazumi Nagaike (2012), Tạp chí online Transformative Works and Cultures, số đặc biệt mang tên “Transnational Boys’ Love Fan Studies” được biên tập bởi Kazumi Nagaike và Katsuhiko Suganuma (2013), v.v…

Những công trình này tập trung nghiên cứu về hiện tượng Boy’s love ở hai phương diện chính là tiểu thuyết và truyện tranh. Những sản phẩm Boy’s love này được chia làm hai loại:  những sản phẩm được sáng tác bởi các tác giả chuyên nghiệp, những sản phẩm do người hâm mộ sáng tạo nên (fandom) dựa vào những nhân vật nguyên mẫu có sẵn trong các tác phẩm khác như tiểu thuyết, truyện tranh, phim ảnh… đôi khi các nhân vật là người những nổi tiếng như ca sĩ, diễn viên, vận động viên thể thao… Những nghiên cứu được thực hiện chủ yếu ở các quốc gia phát triển mạnh hiện tượng Boy’s Love như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc.

Những nghiên cứu này đã khái quát được hiện tượng Boy’s love trong từng lĩnh vực ở một số quốc gia hoặc khu vực, cho thấy một vài đặc điểm của hiện tượng văn hóa đại chúng này. Nghiên cứu cũng phân tích vai trò của nữ giới trong việc hình thành và phát triển hiện tượng Boy’s love, nhấn mạnh tầm quan trọng của họ đối sự lan tỏa hiện tượng này trên khắp thế giới, đồng thời giải thích những nguyên nhân của sự tồn tại Boy’s love. Qua mối liên hệ giữa phụ nữ và hiện tượng Boy’s love, các nghiên cứu cho thấy rằng những giá trị văn hóa truyền thống đang dần thay đổi không chỉ ở phương Tây mà cả những quốc gia phương Đông về vấn đề tình dục, tình yêu, bình đẳng giới…

4.4.2. Những công trình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến hiện tượng Boy’s love

Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết trực tuyến như: Amateur Fiction Online – The Web of Community Trust A Case Study in Community Focused Design for the SemanticWeb của Lawrence K. Faith (2005), Fan Fiction and Fan Communities in the Age of the Internet: New Essays của Karen Hellekson, Kristina Busse (2006), Internet Fictions của Ingrid Hotz-Davies, Anton Kirchhofer, Sirpa Leppänen (2008), Fic: Why Fanfiction Is Taking Over the World Anne của Elizabeth Jamison (2013), The Fan Fiction Studies Reader của Karen Hellekson, Kristina Busse (2014), Internet Literature in China của Michel Hockx (2015), v.v… Tập trung nghiên cứu về tiểu thuyết trực tuyến (fiction online) trên mạng internet hiện nay. Những tác phẩm này do người hâm mộ hoặc những người viết nghiệp dư sáng tạo nên. Hiện tượng Boy’s love trong những công trình này được xem xét dưới góc độ văn học mạng, qua đó cho thấy một số đặc điểm, ý nghĩa, vai trò… của các sản phẩm Boy’s love và cộng đồng tác giả cũng như độc giả đã sáng tạo và tiếp nhận chúng.

Những công trình nghiên cứu về truyện tranh và phim hoạt hình như: Otaku: Japan’s Database Animals của Hiroki Azuma (2009), Mangatopia: Essays on Manga and Anime in the Modern World của Timothy Perper, Martha Cornog (2011), Southeast Asian Cartoon Art: History, Trends and Problems (2014) và Asian Comics (2015) của John A. Lent (2014), Japanese Visual Culture: Explorations in the World of Manga and Anime của Mark W. MacWilliams (2014), v.v… Tập trung nghiên cứu những sản phẩm truyện tranh và hoạt hình có nguồn gốc xuất xứ từ Nhật Bản (Manga và Anime), truyện tranh Hàn Quốc (Manhwa), truyện tranh Trung Quốc (Manhua) đang chiếm lĩnh thị trường châu Á. Nghiên cứu cho thấy những sản phẩm truyện tranh và phim hoạt hình có nội dung Boy’s love đã trở thành một thể loại phổ biến, riêng Nhật Bản đã trở thành một thể loại chính thống và được xuất bản công khai.

Những công trình nghiên cứu về văn hóa giới, đặc biệt là cộng đồng LGBT  như: Mobile Cultures: New Media in Queer Asia của Chris Berry, Fran Martin, Audrey Yue (2003), Queer Popular Culture: Literature, Media, Film, and Television Thomas Peele (2007),  Gay, Lesbian, Bisexual, Transgender and Questioning Teen Literature: A Guide to Reading Interests của Carlisle K. Webber (2010), Chinese Masculinities in a Globalizing World của Kam Louie (2014), Women in Relationships with Bisexual Men: Bi Men By Women của Maria Pallotta-Chiarolli (2016), New Queer Sinophone Cinema: Local Histories, Transnational Connections của Zoran Lee Pecic (2016), v.v… Những công trình này phân tích mối liên hệ giữa các phương tiện truyền thông đại chúng và phong trào đấu tranh bình đẳng giới, đồng thời cho thấy văn hóa đại chúng trong các lĩnh vực như văn học, điện ảnh, truyền hình, âm nhạc… đã góp phần thay đổi nhận thức của xã hội về bình đẳng giới và cộng đồng LGBT như thế nào, qua đó dự đoán về sự thay đổi của những quan điểm văn hóa truyền thống về như nam tính, nữ tính, tình yêu, hôn nhân, tình dục… trong thời đại toàn cầu hóa. Trong đó, hiện tượng Boy’s love được đề cập như một trong những tác nhân góp phần vào sự thay đổi này.

Tóm lại, qua lịch sử nghiên cứu vấn đề có thể thấy những công trình liên quan đến hiện tượng Boy’s love trên thế giới khá phong phú, được tiếp cận dưới nhiều góc nhìn khác nhau như văn hóa đại chúng, văn hóa giới… trong đa dạng các lĩnh vực như truyện tranh, hoạt hình, văn học, điện ảnh, âm nhạc… nhưng chưa có nghiên cứu nào về hiện tượng Boy’s love được thực hiện hoặc xuất bản ở Việt Nam, bên cạnh đó cũng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu hiện tượng này một cách hệ thống và toàn diện từ góc nhìn văn hóa học. Như vậy, vấn đề nghiên cứu về Hiện tượng Boy’s love và ảnh hưởng đối với Việt Nam (trường hợp Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản) là một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam.

5. Khung lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1. Khung lý thuyết

Với đối tượng và mục đích nghiên cứu như trên, luận văn được thực hiện với hướng tiếp cận liên ngành, tổng hợp tư liệu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn khác nhau như: tâm lý học, văn học, xã hội học, nhân học… đồng thời vận dụng các lý thuyết như: Chức năng luận (Functionalism), Cấu trúc luận (Structuralism) và Nữ quyền luận (Ferminism) để nghiên cứu vấn đề.

5.2. Giả thuyết nghiên cứu

(1) Vấn đề giới có ảnh hưởng khá lớn đến sự phát triển của văn hóa đại chúng. Những hiện tượng văn hóa mang nặng yếu tố nữ tính, bao gồm Boy’s love có thể lan tỏa mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.

 (2) Sự phát triển nhanh chóng của các sản phẩm giải trí Boy’s love cả về số lượng và chất lượng trên khắp thế giới sẽ làm cho hiện tượng Boy’s love từ chỗ là một tiểu văn hóa bên lề dần dần được xác nhập vào dòng văn hóa chính thống trong văn hóa đại chúng.

 (3) Văn hóa đại chúng nói chung, hiện tượng Boy’s love nói riêng, đã có đóng góp tích cực cho phong trào đấu tranh bình đẳng giới, góp phần thay đổi cách nhìn của xã hội về các vấn đề nhạy cảm như đồng tính luyến ái, tình dục của phụ nữ…

(4)  Hiện tượng Boy’s love vừa là sự thành công, vừa là sự thất bại của chủ nghĩa nữ quyền. Thành công về mặt vai trò ý nghĩa , nhưng thất bại về mặt hình thức biểu hiện.

5.3. Phương pháp nghiên cứu

Bên cạnh áp dụng khung lý thuyết nêu trên, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

– Hướng tiếp cận liên ngành: tổng hợp và phân tích thông tin từ nhiều chuyên ngành khác nhau, để nghiên cứu từng yếu tố bộ phận của hiện tượng Boy’s love, sau đó liên kết chúng lại với nhau thành một hệ thống hoàn chỉnh nhằm khái quát lại hiện tượng Boy’s love một cách toàn diện và đúng đắn.

– Phương pháp so sánh, sử dụng để phân tích sự tương đồng và khác biệt của hiện tượng Boy’s love từ Đông sang Tây, làm rõ hơn đặc điểm văn hóa của từng quốc gia hoặc khu vực cụ thể qua đối tượng nghiên cứu.

– Phương pháp hệ thống – cấu trúc, nghiên cứu hiện tượng Boy’s love trong mối quan hệ với các thành tố văn hóa khác và xác định tọa độ văn hóa của đối tượng theo trục chủ thể, không gian, thời gian giúp cho việc nghiên cứu được toàn diện, bao quát.

Phương pháp điều tra xã hội học, dùng để thu thập thông tin thực tế về ảnh hưởng của hiện tượng Boy’s love ở Việt Nam bằng bảng hỏi trực tuyến và phỏng vấn sâu.  Thông tin được thu thập từ những thành viên của các diễn đàn truyện tranh, văn học, fanpage… trên internet. Số bảng hỏi dự kiến là 300 phiếu. Số đối tượng phỏng vấn sâu dự kiến là 20 người.

5.4. Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu luận văn sử dụng cho công việc thực hiện đề tài được lấy từ các công trình nghiên cứu thuộc các chuyên ngành văn hóa học, xã hội học, nhân học, văn học, tâm lý học, tính dục học…bao gồm các bài báo, tạp chí, các bài viết trên mạng internet; thông tin thực tế thu thập bằng bảng hỏi và phòng vấn sâu… Tư liệu chủ yếu được viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Luận văn tạm thời chưa sử dụng được các tư liệu được viết bằng tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Hoa… do hạn chế về trình độ ngoại ngữ.

6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Thông qua việc nghiên cứu trường hợp Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản, luận văn cung cấp những thông tin khoa học và toàn diện về hiện tượng Boy’s love, một hiện tượng văn hóa đại chúng phổ biến đang diễn ra trên thế giới và có ảnh hưởng đến Việt Nam. Nghiên cứu hiện tượng Boy’s love góp phần phân tích một trong những biểu hiện đa dạng của phong trào nữ quyền hiện nay. Qua đó, trình bày rõ hơn những mối liên hệ giữa phong trào đấu tranh bình đẳng giới và sự phát triển của văn hóa đại chúng.

Những kết quả nghiên cứu về hiện tượng Boy’s love qua ví dụ điển hình là Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản tạo điều kiện cho xã hội Việt Nam có một cái nhìn đúng đắn về những vấn đề nhạy cảm từng bị xem là cấm kỵ như tình dục của người phụ nữ, đồng tính luyến ái… Đồng thời gợi mở cho từng cá nhân, cũng như các cấp quản lý có hướng tiếp cận phù hợp với những vấn đề này trong bối cảnh giao lưu văn hóa và hội nhập mạnh mẽ hiện nay.

7. Bố cục và quy cách trình bày luận văn

Luận văn bao gồm các phần Dẫn nhập, Nội dung chính gồm 3 chương, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục. Trong đó Nội dung chính được phân bố như sau:

Chương 1:  Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Chương này trình bày phần nền tảng lý thuyết được áp dụng để thực hiện công việc nghiên cứu hiện tượng Boy’s love thông qua Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản; cung cấp một cái nhìn tổng quát về hiện tượng Boy’s love bao gồm khái niệm, chủ thể, điều kiện hình thành, quá trình phát triển.

Chương 2: Đặc điểm của hiện tượng Boy’s love. Chương này sẽ phân tích những đặc điểm về nội dung ý nghĩa và hình thức biểu hiện của hiện tượng Boy’s love thông qua Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản, sự tương đồng và khác biệt của hiện tượng này ở một số nền văn hóa đại chúng phát triển trên thế giới, cùng với chức năng của hiện tượng Boy’s love.

Chương 3: Ảnh hưởng của hiện tượng Boy’s love trong văn hóa Việt Nam. Chương này đi sâu tìm hiểu về hiện tượng Boy’s love ở Việt Nam thông qua Yaoi/Shounen-ai của Nhật Bản, bao gồm hoàn cảnh xuất hiện và quá trình phát triển, phân tích những lĩnh vực có ảnh hưởng của hiện tượng Boy’s love, đánh giá những tác động tiêu cực và tích cực của Boy’s love đến các khía cạnh kinh tế, chính trị, xã hội, nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay.

Quy cách trình bày về dẫn nguồn tài liệu: (1) Đối với tài liệu xuất bản, phần dẫn nguồn được đặt ngay sau ý hoặc đoạn trích dẫn theo phương thức: [tên tác giả năm xuất bản: số trang], ví dụ: [Lê Ngọc Văn 2006: 33]; (2) Đối với tài liệu trên web site, phần dẫn nguồn được thực hiện bằng cách đặt foot note ngay sau ý hoặc đoạn trích dẫn với trọn vẹn đường link.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tiếng Việt

  1. Belik A.A (2000), Văn hóa học – những lý thuyết nhân học văn hóa (người dịch: Đỗ Lai Thúy – Hoàng Vinh – Huyền Giang), NXB Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
  1. Betty Friedan (2015), Bí ẩn nữ tính (người dịch: Nguyễn Vân Hà), Đại học Hoa Sen và NXB Hồng Đức
  1. Nguyễn Thị Bình (2012), Vấn đề nữ quyền trong văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (qua tư liệu báo chí, văn học), Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh.
  1. Bourdieu Pierre (2002), Sự thống trị của nam giới (người dịch: Lê Hồng Sâm), NXB Tri thức, Hà Nội.
  1. Christopher Ryan and Cacilda Jetha (2016), Tình dục thuở hồng hoang (người dịch: Lê Khánh Toàn), Alphabooks và NXB Thế giới.
  1. Tống Thị Thanh Duyên (2015), Truyện tranh lịch sử Nhật Bản: nguồn gốc, giá trị và những bài học kinh nghiệm, Luận văn thạc sĩ Châu Á học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh.
  1. Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng (2006), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới : Lý thuyết và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  1. Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2001), Xã Hội Học Về Giới Và Phát Triển, NXB  Đại học quốc gia, Hà Nội.
  1. Kang Yong Mi (2013), Tìm hiểu ảnh hưởng của làn sóng Hàn Quốc đến giới trẻ Việt Nam qua âm nhạc và điện ảnh, Luận văn thạc sĩ Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh.
  1. Nhiều tác giả (2001), Đưa vấn đề giới vào phát triển thông qua sự bình đẳng giới về quyền, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
  1. Hà Thị Minh Khương, Võ Kim Hương, Đào Hồng Lê (2008), Hình ảnh phụ nữ qua các phương tiện thông tin đại chúng và tác động của nó đến nhận thức bình đẳng giới của người dân, Viện Gia đình và Giới, Hà Nội.
  1. Trần Ngọc Tăng (2001), Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  1. Nguyễn Thị Phương Thúy (2008), Bước đầu khảo sát văn học mạng Việt Nam, Công trình dự thi giải thưởng ”sinh viên nghiên cứu khoa học”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh.
  1. Nguyễn Thị Mỹ Trang (2012), Truyện tranh Việt Nam và vấn đề “Truyện tranh hóa” tác phẩm văn học, Luận văn thạc sĩ Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh.
  1. Lê Nguyễn Thùy Trang (2014), Làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hàn lưu) tại các tỉnh Nam Bộ – Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh.
  1. Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Thị Loan Anh (2015), Văn hóa đại chúng với văn hóa Việt Nam hiện nay, NXB Văn hóa – Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội.
  1. Lê Ngọc Văn (2006), Nghiên cứu gia đình, Lý thuyết nữ quyền, quan điểm giới, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  1. Trần Hồng Vân (2001), Tìm Hiểu Xã Hội Học Về Giới, NXB Phụ nữ, Hà Nội.
  1. Hồ Khánh Vân (2008), Từ lý thuyết phê bình nữ quyền (Feminist criticism) nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh.

2. Tiếng Anh

  1. Akiko Hori (2013), “On the Response (Or Lack Thereof) of Japanese Fans to Criticism that YaoiIs Antigay Discrimination.” In “Transnational Boys’ Love Fan Studies,” edited by Kazumi Nagaike and Katsuhiko Suganuma, special issue, Transformative Works and Cultures, 12.

http://journal.transformativeworks.org/index.php/twc/article/view/463/388

  1. Alan Williams (2015), “Rethinking Yaoi on the Regional and Global Scale”, Intersections: Gender and Sexuality in Asia and the Pacific, Issue 37, The Australian National University.

http://intersections.anu.edu.au/issue37/williams.htm

  1. Anne Elizabeth Jamison (2013), Fic: Why Fanfiction Is Taking Over the World, BenBella Books, United States.
  1. Antonia Levi, Mark McHarry Dru Pagliassotti (2010), Boys’ Love Manga: Essays on the Sexual Ambiguity and Cross-Cultural Fandom of the Genre, McFarland, United States.
  1. Björn-Ole Kamm (2013). “Rotten Use Patterns: What Entertainment Theories Can Do for the Study of Boys’ Love.” In “Transnational Boys’ Love Fan Studies,” edited by Kazumi Nagaike and Katsuhiko Suganuma, special issue, Transformative Works and Cultures, 12.

http://journal.transformativeworks.org/index.php/twc/article/view/427/391

  1. Carola Katharina Bauer (2012), Naughty Girls and Gay Male Romance/Porn: Slash Fiction, Boys’ Love Manga, and Other Works by Female “Cross-Voyeurs” in the U.S. Academic Discourses, Anchor Academic Publishing, Germany.
  1. Chris Berry, Fran Martin, Audrey Yue (2003), Mobile Cultures: New Media in Queer Asia, Duke University Press, United States.
  1. Dru Pagliassotti (2009), “GloBaLisation and Hybridisation: Publishers’ Strategies for Bringing Boys’ Love to the United States”, Intersections: Gender and Sexuality in Asia and the Pacific, Issue 20, The Australian National University.

http://intersections.anu.edu.au/issue20/pagliassotti.htm

  1. Hanna Rosin (2012), The End of Men: And the Rise of Women, Penguin, United Kingdom.
  1. Hiroki Azuma (2009), Otaku: Japan’s Database Animals, University of Minnesota Press, United States
  1. Ingrid Hotz-Davies, Anton Kirchhofer, Sirpa Leppänen (2008), Internet Fictions, Cambridge Scholars Publishing, United Kingdom.
  1. Jeffrey Angles (2011), Writing the Love of Boys: Origins of Bishonen Culture in Modernist Japanese Literature, University Of Minnesota Press, United States.
  1. Jin Feng (2013), Romancing the Internet: Producing and Consuming Chinese Web Romance, BRILL, The Netherlands.
  1. John A. Lent (2014), Southeast Asian Cartoon Art: History, Trends and Problems, McFarland, United States.
  1. John A. Lent (2015), Asian Comics, University Press of Mississippi, United States.
  1. John Wei (2014), “Queer Encounters between Iron Man and Chinese Boys’ Love Fandom”, Transformative Works and Cultures, no. 17.

http://journal.transformativeworks.org/index.php/twc/article/view/561/458

  1. Jonathan Gray, Lee Harrington, Cornel Sandvoss (2007), Fandom: Identities and Communities in a Mediated World, NYU Press, United States.
  1. Josef Steiff,Tristan D. Tamplin (2010), Anime and Philosophy: Wide Eyed Wonder, Open Court Publishing, United States.
  1. Karen Hellekson, Kristina Busse (2006), Fan Fiction and Fan Communities in the Age of the Internet: New Essays, McFarland, United States.
  1. Katherine Larsen (2012), Fan Culture: Theory/ Practice, Cambridge Scholars Publishing, United Kingdom.
  1. Karen Hellekson, Kristina Busse (2014), The Fan Fiction Studies Reader, University of Iowa Press, United States.
  1. Kathleen Ann Geisse (2002), Alternative male sexualities in the fiction of post-war Japanese female writers: possibly feminist feminist possibilities, Stanford University, United States.
  1. Kathryn Hemmann (2015), “Queering the Media Mix: The Female Gaze in Japanese Fan Comics”, Transformative Works and Cultures, 20.

http://journal.transformativeworks.org/index.php/twc/article/view/628/540

  1. Kazumi Nagaike (2012), Fantasies of Cross-dressing: Japanese Women Write Male-Male Erotica, BRILL, The Netherlands.
  1. Kazumi Nagaike and Katsuhiko Suganuma (2013), “Transnational Boys’ Love Fan Studies [editorial].” In “Transnational Boys’ Love Fan Studies,” edited by Kazumi Nagaike and Katsuhiko Suganuma, special issue, Transformative Works and Cultures, no. 12.

http://journal.transformativeworks.org/index.php/twc/article/view/504/394

  1. Larissa Hjorth,Olivia Khoo (2015), Routledge Handbook of New Media in Asia, Routledge, United States.
  1. Lawrence K. Faith (2005), Amateur Fiction Online – The Web of Community Trust A Case Study in Community Focused Design for the Semantic Web, University of Southampton Research Repository ePrints Soton.
  1. Liu Ting (2009), “Conflicting Discourses on Boys’ Love and Subcultural Tactics in Mainland China and Hong Kong”, Intersections: Gender and Sexuality in Asia and the Pacific, Issue 20, Australian National University.

http://intersections.anu.edu.au/issue20/liu.htm

  1. Liu Ting (2011), Boys’ Love in Girls’ Hands: The Survival of a Gendered Youth Culture in Mainland China and Hong Kong, Australian National University, Australia.
  1. Lori Hitchcock Morimoto (2013). “Trans-cult-ural Fandom: Desire, Technology and the Transformation of Fan Subjectivities in the Japanese Female Fandom of Hong Kong Stars.” Transformative Works and Cultures, 14.

http://journal.transformativeworks.org/index.php/twc/article/view/494

  1. Mark J. McLelland (2000), Male Homosexuality in Modern Japan: Cultural Myths and Social Realities, Psychology Press, United Kingdom.
  1. Mark J. McLelland (2005), “The World of Yaoi: The Internet, Censorship and the Global “Boys’ Love” Fandom”, The Australian Feminist Law Journal, 23, 61-77.

http://ro.uow.edu.au/cgi/viewcontent.cgi?article=1152&context=artspapers

  1. Mark J. McLelland, M & Yoo, S (2007), “The international Yaoi boys’ love fandom and the regulation of virtual child pornography: current legislation and its implications”, Journal of Sexuality Research and Social Policy, 4(1).

http://ro.uow.edu.au/cgi/viewcontent.cgi?article=1199&context=artspapers

  1. Mark J. McLelland, Kazumi Nagaike, Katsuhiko Suganuma, James Welker (2015), Boys Love Manga and Beyond: History, Culture, and Community in Japan, University Press of Mississippi, United States.
  1. Mark W. MacWilliams (2014), Japanese Visual Culture: Explorations in the World of Manga and Anime, Routledge, United Kingdom.
  1. Maria Pallotta-Chiarolli (2016), Women in Relationships with Bisexual Men: Bi Men By Women, Rowman & Littlefield, United States.
  1. Michael DeAngelis (2014), Reading the Bromance: Homosocial Relationships in Film and Television, Wayne State University Press, United States.
  1. Midori Suzuki (2013), “The Possibilities of Research on Fujoshiin Japan.” In “Transnational Boys’ Love Fan Studies,” edited by Kazumi Nagaike and Katsuhiko Suganuma, special issue, Transformative Works and Cultures, 12.

http://journal.transformativeworks.org/index.php/twc/article/view/462/386

  1. Mizuko Ito (2012), Fandom Unbound: Otaku Culture in a Connected World, Yale University Press, United States.
  1. Patrick W. Galbraith (2011), “Moe: Exploring Virtual Potential in Post-Millennial Japan“,  Electronic Journal of Contemporary Japanese Studies.

http://www.japanesestudies.org.uk/articles/2009/Galbraith.html

  1. Paul M. Malone (2013), “Transplanted Boys’ Love Conventions and Anti-ShotaPolemics in a German Manga: Fahr Sindram’s Losing Neverland.” In “Transnational Boys’ Love Fan Studies,” edited by Kazumi Nagaike and Katsuhiko Suganuma, special issue, Transformative Works and Cultures, 12.

http://journal.transformativeworks.org/index.php/twc/article/view/434/395

  1. Roman Rosenbaum (2013), Manga and the Representation of Japanese History, Routledge, United Kingdom.
  1. Sandra Annett (2014), Anime Fan Communities: Transcultural Flows and Frictions, Springer, Germany.
  1. Timothy Perper,Martha Cornog (2011), Mangatopia: Essays on Manga and Anime in the Modern World: Essays on Manga and Anime in the Modern World, ABC-CLIO, United States.
  1. Thomas Peele (2007), Queer Popular Culture: Literature, Media, Film, and Television, Palgrave Macmillan, United Kingdom.
  1. Tomoko Aoyama (2009), “Eureka Discovers Culture Girls, Fujoshi, and BL: Essay Review of Three Issues of the Japanese Literary magazine, Yuriika (Eureka)” , Intersections: Gender and Sexuality in Asia and the Pacific, Issue 20, Australian National University.

http://intersections.anu.edu.au/issue20/aoyama.htm

  1. Tricia Abigail Santos Fermin (2013), “Appropriating Yaoi and Boys Love in the Philippines: Conflict, Resistance and Imaginations Through and Beyond Japan”, Electronic Journal of Contemporary Japanese Studies, Volume 13, Issue 3.

http://www.japanesestudies.org.uk/ejcjs/vol13/iss3/fermin.html

  1. Yannan Li (2009), Japanese Boy-love Manga and the Global Fandom: A Case Study of Chinese Female Readers, Lambert Academic Publishing, Germany.

[ Mệnh Phượng Hoàng ] Chương 25 – Dây huyết thống

.

Tình cảnh của cô hiện tại không phải ngồi trên đống lửa nhưng cũng không tốt hơn bao nhiêu. Vì cô thật sự không biết phải nói về điều gì với người xung quanh. Cô có cảm giác mình với họ không thuộc về một thế giới. Bản thân cô, đúng hơn là phần nhân cách này, được nuôi dạy trong môi trường nông thôn, tiếp xúc hạn chế, giao tiếp hạn hẹp. Còn nàng, dù sống nơi thành thị phồn hoa, gia đình giàu sang, cũng chưa từng được phép tiếp chuyện với những nhân vật quyền lực trong chính trường ở khoảng cách gần như vậy.  Cho nên, họ có tỏ ra thân thiện đến mấy cũng không làm cô thoải mái.

Khi biết thầy Tần là người nhà họ Hồ, lại thêm những bí mật thân thế, cô đã chủ động tìm kiếm thông tin về dòng họ này, cả chính thống lẫn bên lề. Thật sự là rất nhiều thâm cung bí sử. Nhưng nhìn chung, chúng không thay đổi được nhận thức của cô dành cho gia tộc này. Cũng không thể nói là lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, đơn giản là cô có cảm tình với họ qua những gì họ làm, đôi khi độc đoán một chút, cũng có những sai lầm tương đối trầm trọng làm đổ không ít xương máu nhân dân trong đường lối chính sách. Nhưng vẫn phải khẳng định họ là cá nhân kiệt xuất, gánh vác vận mệnh cứu quốc trong giai đoạn đất nước lầm than.

Người đang ngồi đối diện cô hôm nay là Bộ trưởng giáo dục Hồ Sinh Thế, Ủy viên Bộ Chính trị. Ông là con trai út của Hồ đại tướng, vị Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy quân đội làm nên Đại thắng Mùa Xuân thống nhất đất nước. Nhưng phe đối lập vẫn khẳng định rằng Bộ trưởng là con trai duy nhất của Hồ lãnh tụ. Không biết thật giả đúng sai thế nào, nhưng điều này không những bôi nhọ danh tiếng của Người, còn làm con đường công danh của con cháu họ Hồ gặp nhiều trắc trở, mặc dù bọn họ thật sự tài năng.

Những cải cách giáo dục của Bộ trưởng gần đây đã dần dần phát huy hiệu quả. Điều này có ý nghĩa to lớn đối với tình hình đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học đang vô cùng bế tắc. Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nhưng quốc gia hiện tại làm hiền tài không có đất thi thố tài năng, dẫn đến chảy máu chất xám nghiêm trọng. Cho nên, sự cởi trói của một Ủy viên Bộ Chính trị hướng đến việc dân chủ tự do hơn trong vấn đề giáo dục được hoan nghênh nghiệt liệt. Nhưng ông vẫn gặp phải chỉ trích nặng nề từ một số lãnh đạo cấp cao là chệch đường lối, vì học tập và áp dụng một số phương pháp quản lý của chính quyền đối lập trong giai đoạn chia cắt Bắc Nam.

Tuy nhiên, ông lại nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của tầng lớp trí thức trong và ngoài nước. Nhưng một số bình luận quốc tế cho rằng, nếu ông vẫn tiếp tục quan điểm cấp tiến, con đường quyền lực có thể gặp trở ngại, thậm chí bị chặn đứng bởi những lãnh đạo cao cấp khác bảo thủ hơn.

Quay lại buổi gặp mặt, mọi người uống xong một tuần trà, Bộ trưởng trở lên phòng xử lý công việc. Thầy Tần và Âu Dương mang bé Minh đi dạo chơi, để lại hai người phụ nữ. Không cần nghĩ cũng biết bây giờ vấn đề chính mới bắt đầu. Nhưng ngoài dự đoán của cô, câu chuyện cũng không đáng sợ gì, chỉ xoay quanh cuộc sống thường ngày. Thái độ của bà rất chân thành, như quan tâm một cô cháu gái sống ở gia đình chồng hiện giờ có được bình yên hạnh phúc, có gặp uất ức thua thiệt, có bị ức hiếp hành hạ gì hay không.

Câu chuyện khiến cô đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, không hiểu mục đích của bà là gì. Sau cùng, bà siết chặt tay cô, giọng nói xúc động.

– Hai mẹ con của con lẽ ra không phải sống như vậy. Nếu mọi người biết chuyện sớm hơn, có thể tìm ra mẹ con con sớm hơn… Đáng tiếc… Bây giờ con không còn mẹ thì hãy xem dì là mẹ đi… Nếu con cần giúp cái gì, cứ nói cho dì biết, không cần lo lắng ngại ngần, có biết không?

Cô nghe bà nói, có cảm giác thật hoang mang bối rối, nhưng vẫn cố gắng vâng dạ mỉm cười đầy biết ơn. Có ăn gan hùm cô cũng không dám phản đối. Nhưng có ăn gan hùm cô cũng không dám làm như bà nói. Bà thấy cô ngoan ngoan nghe lời, im lặng nhìn cô một lúc lâu, cuối cùng mỉm cười gật đầu. Cô không nhận ra sự bất đắc dĩ và đau lòng trong mắt bà, cũng không nhận thấy tiếng thở dài bị che giấu.

Đến bữa trưa, bàn ăn được dọn bên cạnh hồ sen, trước đó mâm cơm cúng đã được đặt lên bàn thờ. Mặc dù giống nhà thờ tổ của họ Hồ với kiến trúc nhà rường cổ kính đậm đà phong cách cố đô, nhưng nơi này chỉ thờ từ đời cha của Hồ lãnh tụ là cụ Bảng nhãn Hồ Sinh Hiên cùng vợ là Lưu Thiên Hinh. Trên bàn thờ tổ quốc, vị trí của lãnh tụ và quốc kỳ được đặt cao nhất, nhưng ở đây Người chỉ xếp thứ hai. Ai cũng có tổ tiên, người đứng đầu quốc gia cũng không ngoại lệ.

Bữa cơm diễn ra suôn sẻ. Cô âm thầm thở phào nhẹ nhõm vì không làm việc gì khiến không khí xấu hổ. Thành thật mà nói, cô chỉ mong thời gian trôi nhanh một chút, để có thể về nhà, kết thúc sự hành hạ đầy vinh quang này. Nếu là người khác được ăn một bữa cơm gia đình với Ủy viên Bộ Chính trị sẽ vui mừng đến rớt nước mắt, còn cô chỉ thấy đau khổ không thôi. Cô không phải không thích Bộ trưởng, thậm chí còn rất ngưỡng mộ ông, nhưng thần tượng chỉ nên đứng xa xa mà nhìn. Hơn nữa, có chỗ dựa vững chắc rất tốt, nhưng da mỏng thịt thiếu mà ngoan cố dựa bậy sẽ té vô bụi rậm bị gai đâm chết. Con người phải biết tự lượng sức mình.

Tuy nhiên, bữa cơm kết thúc cô vẫn chưa được giải thoát, bị ép buộc ở lại nghỉ trưa. Phòng ốc được chuẩn bị chu đáo từ sớm. Chủ nhà hiếu khách như vậy cô làm sao từ chối, huống chi Bộ trưởng phu nhân đích thân dẫn hai mẹ con lên phòng, lại ân cần hỏi han còn thiếu thứ gì để người làm mang thêm. Được tiếp đãi như khách quý khiến cô không ngừng hoảng hốt, liên thanh cảm ơn, xua tay không cần. Tiễn bà rời khỏi, đóng lại cửa phòng, cô mới bình tĩnh được.

Càng lúc cô càng không biết làm sao ứng phó với sự nhiệt tình tự như đổ xuống đầu mình từ nhà họ Hồ, như trúng số độc đắc, không cho người khác chút thời gian chuẩn bị tâm lý. Nhưng cô không biết rằng, chuyện chỉ mới bắt đầu.

Dỗ bé Minh yên giấc, cô cũng không ngủ được, đành xuống giường đi loanh quanh ngắm căn phòng. Nơi này được thiết kế theo kiểu khuê phòng của tiểu thư con nhà trâm anh thế phiệt. Đồ nội thất đều thuộc dạng cao cấp, tốn cũng không ít tiền. Thật không biết đây là tiền thuế của dân hay là tiền túi tự xuất, nhưng tiền nào cũng có vẻ hơi phung phí. Dạo một vòng, lại không có chuyện gì làm, cô bước đến cửa sổ nhìn ra khu vườn, vô tình gặp thầy Tần và Âu Dương đang ngồi chỗ bàn đá, dưới tán cây sứ trắng.

Cô định quay vào, y đột nhiên ngẩng mặt lên, đưa tay vẫy vẫy. Cô lắc đầu. Thầy Tần cũng nhìn lên, mỉm cười ôn hòa. Cô chịu thua.

Vừa ngồi xuống, Âu Dương liền hỏi tình hình sức khỏe của cô hiện nay.

– Con vẫn uống thuốc bình thường. Sức khỏe cũng bình thường. Nhưng không nhớ thêm chuyện gì khác. Có gì không ạ?

– Không. Chỉ quan tâm em thôi. Với lại, tôi rất muốn biết em sẽ có năng lực ngoại cảm gì khi khỏi bệnh.

– Năng lực ngoại cảm?

Cô ngẩn người lặp lại. Âu Dương bật cười.

– Em vẫn không tin mình mang huyết thống họ Âu sao?

– Không… Con chỉ không nghĩ mình sẽ có năng lực ngoại cảm. Không phải nói con bị nhiễm độc Aufamine sao? Chất độc ảnh hưởng đến hệ thần kinh rồi AND gì đó… Nếu chữa khỏi, cũng chỉ là loại bỏ độc tố, thanh lọc cơ thể, chẳng lẽ còn khôi phục được những phần đã bị tổn thương sao?

– Nếu là người bình thường bị nhiễm một loại độc có tác dụng tương tự thì không thể. Nhưng người họ Âu thì khác. Cho nên họ mới bị săn lùng, bị lợi dụng, bị nghi kị và phải trốn chui trốn nhủi.

Y cười cười nói. Nụ cười mang theo trào phúng và cay đắng. Cô muốn hỏi sâu hơn là chuyện gì, nhưng không dám.

Cuộc sống của người này cũng không tràn đầy hoa hồng như thiên hạ đang nghĩ. Trên đời được bao nhiều người không có quá khứ tràn đầy đau khổ và tổn thương? Biết đâu, Âu Dương, vua của giới giải trí, cũng đã trả giá thành công bằng máu và nước mắt. Huống chi, y còn là tộc trưởng tương lai của dòng tộc. Nhưng cô vẫn không hiểu nổi vì sao y lại ngang nhiên công bố mình là người họ Âu, còn đi lại thân thiết với họ Hồ. Lẽ ra ở vị trí của y, người ta phải cẩn thận cho giấu thân phận, hành động bí ẩn không được phô trương. Đằng này, những gì y làm hoàn toàn ngược lại. Họ Hồ cũng không phản đối, thậm chí còn hợp lực tiếp tay.

Tuy nhiên, nếu đứng từ góc độ thần kinh không giống người thường của Âu Dương để suy đoán, thì cũng không khó hiểu.

– Con có thể có năng lực gì?

Nói sao thì cô cũng tò mò. Ai không hy vọng mình có được chút năng lực hơn người, đặc biệt như những anh hùng trong phim khoa học viễn tưởng.

– Không ai có thể biết cho đến khi năng lực thức tỉnh. Chúng không di truyền, không trùng lặp, không thay đổi. Mỗi người phụ nữ họ Âu là một sự tồn tại đặc biệt độc đáo. Cho nên, tôi mới chờ mong em khỏi bệnh.

– Vậy… đến giờ đã có những năng lực gì xuất hiện rồi?

– Rất nhiều, không tính hết. Nhưng người có năng lực và còn sống hiện giờ thì chỉ đếm trên đầu ngón tay, bao gồm đọc suy nghĩ, di chuyển đồ vật từ xa, trò chuyện với động vật, nhìn xuyên thấu vật chất, trí nhớ siêu phàm, nghe được âm thanh ở xa và dưỡng thực vật.

Âu Dương kể rất thản nhiên, như nói “hôm nay trời rất đẹp”, khiến cô âm thầm cảm thán. Người có năng lực phi thường đáng lẽ phải được trân trọng bảo vệ, đằng này phải chạy trốn giấu giếm. Đúng là tạo hóa trêu ngươi.

– Anh Tần, dì có năng lực gì ạ?

Thầy cười nói, có vẻ rất tự hào.

– Mẹ anh có trí nhớ siêu phàm. Những gì bà đọc qua một lần, thậm chí chỉ đọc thoáng qua cũng có thể nhớ chính xác đến từng câu từng chữ. Những người đã gặp, những chuyện đã xảy ra cũng được ghi nhớ tương tự. Dù bao nhiêu năm cũng không quên. Cho nên, không ai trong nhà anh có thể qua mặt mẹ được.

Cô cười, thật tâm, không phải lấy lòng phụ họa, vì nghe cách nói của thầy, gia đình Bộ trưởng thật sự rất hạnh phúc. Nhà quyền quý có bao nhiêu người được như thế?

– Không cần tò mò. Cuối năm nay, tôi sẽ dẫn em về Viên Trăng cúng tế tổ tiên, cũng gặp mọi người trong nhà. Nhận tổ quy tông phải đầy đủ lễ nghĩa mới có giá trị. Đến lúc đó, em muốn biết bao nhiêu chuyện cũng được.

Âu Dương cười nói. Cô nghe vậy cũng không hỏi nữa. Chuyện ngoại cảm kết thúc. Cô nhìn nhìn đồng hồ, đoán bé Minh sắp thức nên xin phép về phòng. Trước khi đi, lại nghe y dặn dò tuần sau nhớ đến Y Quán tái khám. Cô vâng dạ gật đầu.

Cô bỗng dưng có dự cảm không lành. Hiện tại cuộc sống đã đủ hỗn loạn, nếu bản thân khỏi bệnh, xuất hiện năng lực ngoại cảm đặc biệt dị thường, thì mọi thứ sẽ càng hỗn loạn. Cuộc trò chuyện hôm nay cũng khiến cô cảm thấy năng lực của mình có thể bị lợi dụng vào mục đích nào đó, tệ hơn là biến thành đối tượng bị mổ xẻ trong phòng thí nghiệm, nên người ta mới quan tâm đến sức khỏe của cô và chờ mong như vậy,

“Chẳng lẽ không thể tin ai được sao?”. Cô nhìn khung cảnh vắng lặng, âm thầm thở dài.

Giữa buổi chiều, thầy Tần đưa cô và bé Minh về nhà. Vợ chồng Bộ trưởng không giữ lại. Họ cũng chuẩn bị ra ngoài. Người ta cho mẹ con cô cả buổi sáng cuối tuần đã nể mặt lắm rồi. Chức vụ cao như thế, lịch làm việc và sinh hoạt chắc chắn kín như bưng. Lúc lên xe, nhìn Bộ trưởng phu nhân đứng vẫy tay tạm biệt, cô cũng hơi luyến tiếc. Sự nhiệt tình của bà làm cô cảm nhận được chút tình thân ấm áp. Tối mai bà phải bay về Đông Kinh, chắc lâu lắm mới gặp lại, còn không biết có cơ hội hay không. Khoảng cách là hai đầu đất nước xa xôi.

Một ý tưởng nảy ra trong đầu, cô liền nhờ thầy Tần đưa mình đến Trung tâm thương mại Diamond. Buổi chiều thầy cũng không làm gì, cùng hai mẹ con đi dạo. Ba người đi đến gian hàng trang sức.

– Anh Tần, dì thích ngọc trai hay đá quý? Em muốn tặng dì một sợi dây chuyền.

Cô trực tiếp hỏi thầy Tần. Người trong nhà hiểu ý nhau hơn. Cô cũng không che giấu ý định của mình. Thầy cười nhìn cô, suy nghĩ một chút mới nói:

– Em đừng tặng nữ trang. Mẹ thích cắm hoa. Em mua cho mẹ một bộ bình hoa sẽ ý nghĩa hơn.

– Vậy còn dượng thích gì ạ?

– Ba thích uống trà. Một bộ ấm chén có lẽ là được.

Thầy hoàn toàn không khách sáo vô nghĩa, thản nhiên nhận quà, một chút biểu hiện ngại ngần hay từ chối cũng không. Nhưng như thế càng làm cô thoải mái trong lòng, vậy mới giống người nhà.

Cùng nhau đến gian hàng gốm sứ Chu Đậu, ba người lượn một vòng. Cô nghe theo ý kiến của quân sư mua cho Bộ trưởng một bộ ấm chén tử sa màu đen sẫm, vai vuông, khắc hoa mai trắng, đầy đủ phụ kiện và khay, dáng vẻ vừa mạnh mẽ lão thành lại thanh thoát cao quý. Còn quà tặng Bộ trưởng phu nhân là bộ bình hoa Tứ Quân Tử màu nâu đất khắc hình mai, lan, cúc, trúc với dáng bình đứng cao rất uyển chuyển tao nhã. Hai thứ đều là hàng chất lượng cao cấp, mẫu mã vừa ra trong tháng. Quà tặng được đóng gói cẩn thận, cô gửi thầy Tần mang về, vì không biết mình còn cơ hội gặp mặt hay không.

Cô rất hài lòng về món quà, hy vọng người nhận cũng hài lòng. Cô cũng không muốn lấy lòng hay nịnh hót, chỉ đơn giản là cảm động trước tình cảm của gia đình. Những gì họ đã hứa hẹn, dù có toan tính chi, là thật là giả đều không quan trọng. Bởi vì đã từng nghĩ đến thì mới có thể hứa hẹn. Huống chi, từ dạ tiệc từ thiện Tấm Lòng Vàng, họ cũng đã cho cô chỗ dựa trong giới thượng lưu.

Cô cũng mua cho bé Minh một con heo đất xinh xắn, trên thân vẽ những họa tiết âm dương và vòng xoáy trôn ốc như đàn lợn trên tranh dân gian Đông Hồ. Bỏ ống heo có thể dạy cho trẻ nhỏ thói quen tiết kiệm và chi tiêu hợp lý. Cô không thể để con trai tập tành tiêu xài phung phí như Thiền Quyên. Thằng bé có vẻ rất thích món quà này, tự mình lựa chọn chú heo đất, lúc nào cũng ôm trên tay. Có lẽ vì đây là món đồ chơi đầu tiên mang tính dân dã truyền thống mà bé Minh có. Nhìn nhóc con hào hứng như vậy, cô thấy thật hạnh phúc.

Xe dừng trước cổng nhà, hai mẹ con cảm ơn rồi chào tạm biệt thầy Tần. Nhìn chiếc xe khuất sau góc đường, cô dẫn bé Minh quay vào, bỗng dưng có một ý nghĩ buồn cười là không biết món quà gửi cho vợ chồng Bộ trưởng vừa rồi có tính là hối lộ và tham nhũng hay không, nhưng nếu như thế cũng tính là hối lộ và tham nhũng thì đất nước này đã phát triển hơn bây giờ một trăm năm rồi.

Sáng thứ hai, cô đưa bé Minh đến trường như thường lệ rồi lên thư viện ngồi vì không có tiết học. Cô muốn tập tành viết báo kiếm nhuận bút, nên phải đọc vài quyển sách hướng dẫn. Cô đã đăng ký một khóa học nghiệp vụ báo chí, sẽ bắt đầu vào hai tuần nữa. Khóa mở buổi tối nên rất thuận tiện về thời gian. Những khóa học này, đủ mọi lứa tuổi tham gia, quy định cũng không nghiêm khắc, nếu cô không gửi bé Minh cho ai được cũng có thể dẫn theo.

Những người sinh ra trong gia đình có điều kiện như Thiền Quyên, tầm tuổi này, đã nắm trong tay cổ phần tập đoàn, trực tiếp tham gia hoạt động kinh doanh của gia đình, hoặc gây dựng một sự nghiệp riêng, nhưng cô và nàng đều vô duyên với tiền bạc, ngoài nguyên nhân bản thân bất tài, còn vì nàng hoàn toàn không được thừa kế một chút tài sản nào. Cũng dễ hiểu thôi, dù sao cũng là con riêng, một sự tồn tại xấu hổ, lại còn đem danh dự gia đình bôi tro trát trấu. Cho nên, cô đành phải cố gắng dành dụm từng đồng, lụm từng cắc bạc mà thôi.

Đến trưa, cô rời thư viện đi ăn trưa liền nhận được điện thoại. Số máy lạ. Nhưng nghe giọng người liền khiến cô sửng sốt phát hoảng, cho dù thanh âm khá ôn hòa.

– Xe đang dừng trước cổng trường chờ con. Chúng ta cùng đi ăn trưa.

Hỏi ý kiến của cô cũng không cần. Thật đúng là tác phong lãnh đạo. Cô chỉ còn cách ngoan ngoãn làm theo.

Lúc nhìn thấy chiếc xe biển số xanh chói lóa với ký hiệu 80B, cô có cảm giác lo lắng khủng khiếp. Trái tim đập bang bang như muốn nhảy khỏi lòng ngực. Nhìn thấy Bộ trưởng, cô lễ phép chào hỏi, được cho phép mới ngồi vào băng ghế sau, bên cạnh ông. Tiếp xúc với ông khiến cô thấy áp lực cực kỳ. Không chỉ vì thái độ trầm tĩnh lạnh lùng của người đối diện, mà còn vì khí thế của người nắm trong tay quyền lực nhiều năm cứ vô tình toát ra, dù cô biết ông cũng không cố ý.

Nhưng điều khiến cô sợ hãi hơn là phải một mình ăn trưa cùng Bộ trưởng. Chỉ có hai người, ông và cô, ở Biệt thự số 7 thuộc Q2.

Bộ trưởng phu nhân ra ngoài cùng các mệnh phụ khác. Thầy Tần ăn trưa ở chỗ làm. Lời giải thích đơn giản khiến cô rụng rời tuyệt vọng. Nhưng ngay từ đầu đã không hy vọng, vì cô biết cuộc gặp riêng này đã được sắp xếp, nếu không ông cũng không thể tìm ra cô ngay lập tức bằng một cú điện thoại. Mọi hành động của cô đều nằm trong lòng bàn tay họ Hồ. Dùng hình ảnh cá nằm trên thớt để so sánh cũng không quá đáng.

Bữa cơm diễn ra rất bình thường. Vì cô đã từng đến đây nên thấy mọi thứ không quá xa lạ. Cô cảm thấy Bộ trưởng đang cố gắng giao tiếp một cách thân thiện với mình, nhưng vẫn có vẻ mất tự nhiên, dù vậy vẫn làm cô cảm động. Ông nói nhiều hơn hôm qua, hỏi cô chuyện học hành, sinh hoạt và bé Minh. Chỉ là những chuyện mà ai cũng biết, không có gì quan trọng.

Cơm trưa hoàn tất. Bát đũa được dọn. Người làm mang ra khay trà cùng vài món tráng miệng. Cô nhìn thấy bộ ấm trà mình tặng hôm qua đã được mang ra dùng. Điều này thể hiện người nhận rất thích nó.

Ông tự tay rót cho cô một tách trà Tước Thiệt ướp hương sen. Nội dung câu chuyện dang dở lại được tiếp tục. Lần này chuyển hướng đến công việc tương lai của cô:

– Con cũng chưa biết khi ra trường sẽ làm gì, nhưng chắc không theo nghiệp kinh doanh của gia đình, vì không có năng khiếu, cũng không thích lắm. Có lẽ con sẽ làm việc gì đó liên quan đến viết lách, bên báo chí hoặc biên tập sách.

Cô thành thật trả lời. Ông nhấp một ngụm trà lại hỏi:

– Con nghĩ sao về chuyện xuất ngoại?

– Dạ…  hiện tại, con không có ý định này.

Cô cẩn thận trả lời. Từ chối một lời đề nghị đầy thiện chí, cảm giác hơi khó xử, nhưng cô không muốn nói dối.

– Tại sao?

Ông nhìn thẳng vào mắt cô, nghiêm túc nhưng không trách cứ. Cô im lặng xoay chén trà, cúi mặt không biết trả lời thế nào.

– Có phải con không tin chúng ta?

Là khẳng định, không phải câu hỏi. Cô khẩn trương nhìn ông, ngập ngừng nói:

– Con… không…

– Không cần giải thích. Ở vào hoàn cảnh của con, suy nghĩ như vậy cũng dễ hiểu thôi. Đúng là chúng ta đã làm khó con, khi muốn con tin tưởng, nhưng lại không cho con biết tất cả sự thật.

Ông chậm rãi nói, ánh mắt xa xăm nhìn về phía hồ sen. Gió thổi qua mặt hồ, hoa lá đung đưa rập rờn như sóng. Không gian thoáng đãng nhưng lại tĩnh lặng đến trầm mặc khiến người bất người.

Cô lo lắng nhìn ông, không dám lên tiếng. Cô cảm thấy thần trí của ông đã bay đến một nơi nào đó. Khí thế lãnh đạo xa cách lạnh lùng nơi người đối diện cũng tan biến mất tăm, thay vào là một cảm giác u buồn mênh mông, chênh vênh cô độc. Nhận thức mới khiến cô bối rối, cảm thấy mình thật buồn cười. Cô đang hoang tưởng, chắc chắn là hoang tưởng. Một người tóc đã pha sương, đứng trên đỉnh cao, người người nghe lệnh, làm sao có thể bày ra tình tự yếu đuối trước mặt một hậu bối như cô. Đừng nói chỉ mới gặp mặt ba lần, còn là cháu họ vợ xa, cho dù con cháu thân thiết lâu năm trong nhà cũng nằm mơ chưa thấy.

Đặt chén trà xuống bàn, ông im lặng nhìn cô một lúc, chỉ nhìn không nói. Cô có cảm giác thấp thỏm trong lòng, nhưng vẫn cố gắng ngồi yên.

– Con rất giống bà ngoại của mình.

Giọng nói của ông thật trầm, mang theo hoài niệm tha thiết.

– Lần đầu tiên nhìn thấy con ở Palace … Không, phải là lần đầu tiên nhìn thấy con ngoài đời thực chứ không phải qua ảnh ở Palace…

Ông đột nhiên khẽ cười, bỏ dở câu nói. Sau đó, ông mở ví, lấy một bức ảnh đưa qua. Cô ngạc nhiên, nhưng vẫn lễ phép nhận lấy bằng hai tay, cẩn thận ngắm nhìn.

Bức ảnh trắng đen bằng một phần ba bàn tay. Ảnh đã cũ, khung bìa màu trắng đã chuyển sang nâu nhạt, không còn nhìn rõ mặt người. Trong ảnh có ba người đứng dưới một gốc cây ban đang trổ hoa khắp cành nhánh. Người phụ nữ trẻ mặc trang của người Mường Khê đứng giữa, phía trước là một cậu bé trai chừng mười mấy tuổi và cô bé gái khoảng bốn năm tuổi.

– Dạ… Đây là…

Cô ngẩng mặt nhìn ông. Thanh âm bất giác run rẩy, cả thân thể lẫn tâm trí cũng run rẩy theo.

– Tấm ảnh này được chụp trước khi bà ngoại con mất nửa tháng. Lúc đó, bà ngoại con vừa tròn ba mươi lăm tuổi. Mẹ con được bốn tuổi rưỡi. Cậu mười hai tuổi.

-…

– Mẹ con là em gái ruột của cậu.

.

[ Điền dã ] Phần 4 – “Chuẩn” thạc sĩ tắm chung với bò

.

“Chuẩn”  thạc sĩ là cách gọi của cô dạy Các lý thuyết văn hóa học, Văn hóa Đại chúng, Văn hóa so sánh… Trưởng khoa Hàn Quốc học không biết tiếng Hàn Quốc duy nhất ở Việt Nam, có thể là duy nhất trên thế giới.  Chữ “chuẩn” ở đây không phải là “đủ tiêu chuẩn làm thạc sĩ”, mà là chuẩn bị làm thạc sĩ, đôi khi không biết chuẩn bị đến lúc nào.

Ta nói, đi Ba Chúc có rất nhiều chuyện vui, ngoài ngủ muỗi, ăn chùa, té xe, còn có tắm bò, aka tắm chung với bò.

Chuyện là chùa Tam Bửu, Tổ đình của đạo Tứ Ân Hiếu nghĩa có một cái nhà vệ sinh kiêm nhà tắm công cộng dành cho mọi người ở thị trấn Ba Chúc. Sạch sẽ, đẹp đẽ, có người dọn dẹp hàng ngày. Ở đây người ta làm từ thiện, thân tình  và dễ thương thấy mắc ham.

Bọn này ở chùa thì chỉ có cách tắm ở nơi đó. Nhưng sạch thì có sạch mà toàn rầy chết. Rầy chết thành lớp trôi nổi lềnh bềnh trên mặt nước bồn tắm, nhìn muốn phát khóc. Nước từ giếng bơm lên nhìn xanh xanh đục đục. Cái giếng to lắm. Hồi trước nhà nào cũng có, giờ có điện có nước máy không đào giếng lung tung, đào lung tung sập núi.

Nhưng cái đám khai thác đá ở núi Phượng Hoàng đã chặt mất cái đuôi con Phượng Hoàng rồi. Phượng Hoàng giờ trụi lủi nham nhở, bụi bay đầy trời, vừa dơ vừa xấu. Có ngày Phượng Hoàng giận dữ phun lửa chết cả  đám.

Quy lại cái nhà tắm, có hôm đang tắm trong phòng, nghe tiếng ụm bò ngoài cửa. Có khi tắm xong mở cửa ra thấy bò nghênh ngang đi trong sân.  Hết hồn. Bò ở đất thiêng cũng thích yên tĩnh, lịch sự không phiền. Cái đất này đến bò cũng dễ thương.

Mấy con bò núi to vật vã, có hai cái bướu, có sừng cong, da lông trắng trắng. Nhìn có vẻ đẹp hơn mấy con bò sữa và bò đồng bằng. Ở đây, dân vẫn dùng xe bò để chở tầm vông. Mấy con bò lắc lư lắc lư , chậm chạp khoan thai, chuông đeo ở cổ rung rinh rung rinh.

Đất núi khô cằn chỉ thích hợp trồng tầm vông. Tầm vông Ba Chúc trở thành hung khí cho nhiều cái chết trong thảm sát Khmer – Đỏ.  Sinh nghề tử nghiệp.

.

nhatam

Ảnh nhà tắm kiêm vệ sinh công cộng của chùa Tam Bửu
Phía sát lu nước là nhà tắm, đối diện vệ sinh nữ, từ cửa nhìn thẳng vào là vệ sinh nam

.

 

[ Ngắn ] Truyện không tên số 5

.

Bài tập 5  –  Câu văn

Viết câu văn có dùng những hình ảnh so sánh.

Đoạn văn

1.  Trời nắng như thiêu đốt. Những bụi chuối trong vườn trầm mình trong nắng nóng, xơ xác tàn tạ như những kẻ tội đồ bị đày ải giữa sa mạc mênh mông cát cháy.

2. Giàn hoa giấy sum suê bám riết vào ngôi nhà cổ, vươn những cành nhánh lên bầu trời trong xanh cao rộng như một con bạch tuộc đang vươn những chiếc xúc tu giữa biển khơi xanh thẳm.

3.  Nàng thấy mình giống như một kẻ lênh đênh giữa biển cả mênh mông trên  một tấm ván gỗ vừa gặp tàu cứu mạng, chưa biết có phải cướp biển hay không, nhưng vẫn hy vọng.

4. Con đường hoa bằng lăng tím ngắt. Tím mênh mông bất tận. Đẹp. Như một lời tiễn biệt vĩnh hằng.

5. Sự yên bình giả tạo như một khu rừng trong mùa nắng hạn, chỉ một mồi lửa nhỏ cũng có thể thiêu trụi toàn bộ đại ngàn.

6. Cả ngọn đồi ngập tràn những ngôi mộ gió nhìn ra biển, im lìm khắc khoải, như thể đang cầu nguyện thân xác trở về.

7. Chẳng còn gì chờ đợi ở ngày mai, một ngày mai trống rỗng, trong veo như nước mắt.