[ Tự kỷ ] Những vấn đề khác về chuyện viết lách

.

Bài viết trước  Phần 3:  “Kinh nghiệm” viết truyện cổ trang Việt

.

Những vấn đề khác về chuyện viết lách

Được viết bởi:   Bạch Tử

.

I.  Truyện “chất lượng” và truyện “yêu – ghét”

Khi đánh giá một tác phẩm văn học, một vấn đề rất quan trọng cần chú ý là bạn đang nhìn bằng quan điểm khách quan (lý trí)  hay quan điểm chủ quan (tình cảm)

(1)    Khách quan: dùng lý trí để đánh giá tác phẩm đó có chất lượng hay không, dựa vào những tiêu chuẩn cụ thể được nêu ra từ trước, áp dụng cho mọi tác phẩm như:  văn phong, tình tiết, nhân vật, bối cảnh.

(2)   Chủ quan: dùng tình cảm để xem xét tác phẩm có làm cho bạn yêu – ghét hay không, yêu – ghét đến mức độ nào, yêu – ghét ở điểm nào, vì sao lại như vậy…

Mỗi người đều có lý trí (khách quan) và tình cảm (chủ quan).  Lý trí và tình cảm làm việc theo 2 cách khác nhau, có lúc bổ sung cho nhau, có lúc không bao giờ.

Sự phân biệt giữa truyện “chất lượng” (lý trí) và truyện “yêu – ghét” (tình cảm) rất quan trọng đối với người viết review và đọc review.  Mỗi người có một cách viết review riêng, nhưng chung quy không thể nằm ngoài 2 quan điểm này.

Cho nên khi bình luận một tác phẩm, bạn phải nêu rõ phần nào là dùng lý trí để đánh giá, phần nào là dùng tình cảm để xem xét, đừng nhập nhằng chúng với nhau. Có như vậy, việc đánh giá mới công bằng đối với tác phẩm và tác giả. Qua đó, cũng giúp người đọc lựa chọn tác phẩm phù hợp với sở thích đọc sách của mình.

Khi review một truyện, sẽ bắt đầu bằng góc nhìn khách quan, phân tích từng phần một như:  văn phong, bối cảnh, nhân vật, tình tiết.  Trong quá trình phân tích khách quan, bạn có thể nâu quan điểm chủ quan của mình rằng có yêu hoặc ghét điều đó hay không, vì sao yêu hoặc ghét. Như vậy, bài review sẽ sinh động hơn là chỉ viết một bề bằng lý trí hoặc bằng tình cảm.

II. Cách thoát khỏi ảnh hưởng của văn phong ngôn tình

Tôi tính luôn cả đam mỹ, bách hợp, tiên hiệp, kiếm hiệp… nhưng gọi ngôn tình cho gọn.

Bản thân tôi đã từng đọc ngôn tình rất nhiều, và một thời gian văn phong của tôi cũng bị ảnh hưởng bởi chúng. Nhưng may mắn là tôi đã nhận ra và cố gắng tìm cách sửa chữa, không tuyệt đối thành công nhưng cũng tạm ổn. Cách làm này là kinh nghiệm cá nhân, cho nên có thể phù hợp với bạn, hoặc không. Nếu có cách khác hay hơn, xin mời bạn góp ý.

Đầu tiên, phải xem xét là văn phong mượt mà bay bổng, hay là kiểu văn phong bị ảnh hưởng bởi ngôn tình. Sau đó, xác định xem là ảnh hưởng bao nhiêu.  Nhưng dù thấp hay cao, bạn cũng phải nhanh chóng dừng việc đọc ngôn tình lại, dừng việc viết lách của bạn lại. Nếu bị ảnh hưởng nhiều thì thời gian rời xa chúng càng lâu. Việc ngừng đọc ngôn tình, và chuyển qua đọc các loại sách khác, đòi hỏi sự kiên trì và quyết tâm của bạn. Cũng giống như món bạn thích ở trước mặt nhưng bạn không được ăn, phải ăn món mình không quen.

Đối với một số người, chỉ đọc ngôn tình, không đọc được sách khác, có thể chuyển sang đọc romance của phương Tây với các tác giả như Jill Barnett, Julie Garwood, Lynsay Sands, Mary Balogh, Sherrilyn Kenyon, Marc Levy…

Đối với các bạn khác thì dễ rồi, có rất nhiều thể loại để đọc. Văn học hiện đại và  kinh điển Việt Nam và thế giới, các tác giả nổi tiếng và sách đảm bảo chất lượng. Các loại sách khoa học chuyên ngành, hoặc thường thức, văn hóa, lịch sử, tâm lý, triết học, nhân học…

Cách làm này là để cân bằng lại sự ảnh hưởng của văn phong, chứ không có nghĩa tôi khuyến khích bạn đi theo bất cứ trào lưu nào. Tốt nhất là sáng tạo cho mình một phong cách riêng, nhưng đừng sáng tạo kiểu lai căng, hãy học hỏi những nhà văn kỳ cựu của Việt Nam.

Sau một thời gian, bạn hãy thử viết lại, một truyện ngắn chẳng hạn và đưa cho một người khác đọc, họ sẽ đánh giá xem văn phong của bạn đã hết bị ảnh hưởng chưa. Nếu chưa, tiếp tục làm theo cách trên.

Quan điểm của tôi đối với văn hóa Trung Hoa chính là:

“Văn hóa Trung Hoa không xấu, nền văn hóa này rất rực rỡ, rất đáng để học hỏi. Cha ông ta đã biết chọn lọc những tinh hoa để tiếp thu, biến những điều này thành của Việt Nam, vậy vì sao thế hệ chúng ta lại không thể? Sợ hãi bị đồng hóa là do bản lĩnh văn hóa kém cỏi, càng sợ hãi, càng thể hiện sự kém cỏi”

Nhưng có một số người, trong một giai đoạn nào đó, và bản thân tôi là ví dụ điển hình,  có một bản lĩnh văn hóa chưa đủ mạnh và vững chắc để chọn lọc cái gì nên học hỏi và cái gì không. Cách khắc phục tình trạng này là tích cực trao dồi tri thức, tích cực đọc sách, xem phim khoa học… Và đến nay tôi vẫn nghĩ là mình học chưa đủ nhiều.

Ngôn tình là văn hóa đại chúng bị pha tạp, đọc ngôn tình để giải trí hoàn toàn không có vấn đề, nhưng đừng xem nó là tinh hoa của văn hóa Trung Hoa, đừng nghĩ rằng qua ngôn tình bạn có thể hiểu được văn hóa Trung Hoa, vì như vậy là sỉ nhục văn hóa Trung Hoa.

.

p/s:  Phần 3 viết chưa xong mà Phần 4 đã xong  =))

[ Tự kỷ ] Truyện “thuần Việt” là như thế nào

.

Bài viết trước  Phần 1:  “Rác phẩm” dưới góc nhìn văn hóa

.

Truyện “thuần Việt” là như thế nào

Được viết bởi:   Bạch Tử

.

Từ “thuần Việt” gần đây được sử dụng rất nhiều trên các diễn đàn văn học mạng để đánh giá một truyện có bị ảnh hưởng bởi trào lưu văn học nước ngoài hay không, đặc biệt là bị ảnh hưởng bởi ngôn tình, đam mỹ của Trung Quốc. Nhưng truyện “thuần Việt” là như thế nào thì lại không có tiêu chí rõ ràng, gây ra những tranh cãi luẩn quẩn giữa người đọc và người viết. Bài viết này sẽ xem xét vấn đề truyện “thuần Việt” dưới góc độ văn hóa.

Chú ý về việc sử dụng từ ngữ của bài viết: Việt được dùng tương đương với Việt Nam;  Tác phẩm văn học được dùng tương đương với truyện, chỉ xét thể loại văn xuôi.

I. Khái quát về văn hóa Việt

Bài viết “Rác phẩm” dưới góc nhìn văn hóa đã nêu ra định nghĩa chung về văn hóa, hệ tọa độ văn hóa, các đặc trưng và chức năng của văn hóa. Cho nên, bài viết này sẽ đi thẳng vào việc định vị văn hóa Việt Nam, không lặp lại những vấn đề lý thuyết trên.

1. Định vị văn hóa Việt

1.1. Chủ thể

Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước trọng tĩnh. Chủ thể văn hóa là 54 tộc người sống trên lãnh thổ Việt Nam, chủ thể chính là tộc người Kinh, tạo nên một tính thống nhất cao – một tính thống nhất trong sự đa dạng – của con người và văn hóa Việt Nam.

Cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư , do đó phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên.

Cách nhận thức hình thành lối tư duy tổng hợp, kéo theo tính biện chứng. Người nông nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng lẻ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng.

Cách tổ chức cộng đồng là đề cao nguyên tắc trọng tình, dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Tư duy tổng hợp và biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình, dẫn đến lối sống linh hoạt. Sống tình cảm, con người phải tôn trọng và cư xử bình đẳng, dẫn đến tâm lí trọng cộng đồng, tập thể. Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện, thiếu tôn trọng pháp luật, tính tổ chức kém.

Cách ứng xử với môi trường xã hội là thái độ dung hợp trong tiếp nhận các luồng văn hóa ngoại lai, thái độ mềm dẻo hòa hiếu nhưng không kém phần quyết liệt trong chiến tranh.

1.2. Không gian

Hoàn cảnh địa lý – khí hậu Việt Nam có ba đặc điểm cơ bản: xứ nóng, sông nước, nơi giao điểm của các nền văn hóa văn minh. Xét từ cội nguồn, không gian văn hóa Việt Nam vốn được định hình trên nền của không gian văn hóa Đông Nam Á cổ đại, khu vực cư trú của người Bách Việt cổ. Nhưng quá trình phát triển lịch sử – xã hội của Việt Nam đã bị chi phối mạnh bởi các quan hệ giao lưu văn hóa rộng rãi với Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Phương Tây. Việt Nam được chia ra 6 vùng văn hóa như sau:

1. Vùng văn hóa Tây Bắc: là khu vực bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn sông Hồng (lưu vực sông Đà) kéo dài tới Bắc Thanh Nghệ. Ở đây có trên 20 tộc người cư trú trong đó tộc Thái, Mường có thể xem là đại diện. Biểu tượng cho vùng văn hóa này là hệ thống mương phai ngăn suối dẫn nước vào đồng, nghệ thuật trang trí tinh thế trên khăn piêu Thái, cặp váy Mường, âm nhạc khèn sáo, múa xòe…

2. Vùng văn hóa Việt Bắc: là khu vực bao gồm hệ thống núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng. Cư dân vùng này chủ yếu là người Tày, Nùng, trang phục giả dị với màu đen màu chàm, lễ hội Lồng tồng, hệ thống chữ Nôm Tày…

3. Vùng văn hóa Bắc Bộ:  có hình tam giác bao gồm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã với với tộc người Kinh sống quần tụ thành làng xã. Đây là vùng đất đai trù phú, từng là nôi của văn hóa Đông Sơn thượng cổ, văn hóa Đại Việt trung cổ… với những thành tựu phong phú về mọi mặt. Vùng này là cội nguồn của văn hóa Việt ở Trung bộ và Nam bộ sau này.

4. Vùng văn hóa Trung Bộ: là một dải đất hẹp chạy dài theo ven biển từ Quảng Bình tới Bình Thuận. Do khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn nên con người cần cù, hiếu học, thạo nghề đi biển, bữa ăn giàu chất biển, thích ăn cay (bù cho cá lạnh). Trước khi người Kinh đến, nơi đây thời gian dài từng là địa bàn cư trú của người Chăm, với nền văn hóa đặc sắc.

5. Vùng văn hóa Tây Nguyên: nằm trên sườn Đông của dải Trường Sơn, bắt đầu từ vùng núi Bình – Trị – Thiên với trung tâm là các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Ở đây có trên 20 tộc người nói ngôn ngữ Môn – Khmer và Nam Đảo cư trú. Vùng văn hóa đặc sắc với những trường ca sử thi (khan…), cồng chiêng, lễ hội đâm trâu, rừng…

6. Vùng văn hóa Nam Bộ: nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long, khí hậu hai mùa mưa – nắng, mênh mông sông nước và kênh rạch. Tộc người Kinh, Hoa, Chăm tới khai phá nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống cư dân bản đại Khmer, Mạ, Xtieng, Mnong, Choro. Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven sông ven lộ, bữa ăn giàu thủy sản, tính cách con người phóng khoán, tín ngưỡng tôn giáo phong phú đa dạng, tiếp cận và đi đầu trong giao lưu hội nhập với văn hóa phương Tây.

1.3. Thời gian

Tiến trình văn hóa Việt Nam có thể chia ra làm 3 lớp văn hóa, với 6 giai đoạn như sau:

1. Lớp văn hóa bản địa, có 2 giai đoạn:

+  Giai đoạn văn hóa tiền sử:  hình thành nghề nông nghiệp lúa nước, trồng dâu nuôi tằm làm đồ mặc và tục uống chè, thuần dưỡng gia súc như trâu gà, làm nhà sàn và dùng các cây thuốc

+  Giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc:  đỉnh cao thứ nhất trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Kế tục giai đoạn tiền sử về không gian, thời gian và thành tựu văn hóa. Địa bàn cư trú của người Nam Á – Bách Việt cổ. Thời gian khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN. Nông nghiệp đạt đến đỉnh cao, thành tựu chủ yếu là nghề luyện kim, có thể có chữ viết (chữ Khoa đẩu)

2. Lớp văn hóa giao lưu văn hóa với Trung Hoa và khu vực, có 2 giai đoạn:

Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là song song tồn tại 2 xu hướng trái ngược nhau: 1 bên là xu hướng Hán hóa về mặt văn hóa, còn bên kia xu hướng chống Hán hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng của Trung Hoa.

+  Giai đoạn văn hóa thời chống Bắc thuộc: khởi đầu trước công nguyên và kéo dài đến khi Ngô Quyền giành lại được đất nước. Có 4 đặc điểm gồm: (1) Ý thức đối kháng bất khuất và thường trực đối với mối nguy cơ xâm lăng từ phong kiến phương Bắc, thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa  (2) Sự suy tàn của văn minh Văn Lang – Âu Lạc  (3) Mở đầu cho quá trình giao lưu tiếp nhận văn hóa Trung Hoa và khu vực, cũng như quá trình văn hóa Việt Nam hội nhập với khu vực (Đông Nam Á, Ấn Độ)

+  Giai đoạn văn hóa Đại Việt:  là đỉnh cao thứ hai trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Chỉ sau 3 triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê lo việc gây dựng, văn hóa Việt Nam phát triển nhanh chóng, đạt thành tựu rực rỡ về mọi mặt ở 3 triều đại Lý – Trần và Lê . Thời Lý – Trần: Phật giáo hưng thịnh, tinh thần “Tam giáo đồng quy”  được hình thành trên cơ sở truyền dân tộc. Thời Lê:  Xu hướng tiếp nhận văn hóa Trung Hoa – Hán hóa trở thành chủ đạo, hình thành văn hóa Nho giáo. Sử dụng chữ Hán, hình thành và sử dụng chữ Nôm.

3. Lớp văn hóa giao lưu với văn hóa phương Tây, có 2 giai đoạn:

Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là song song tồn tại 2 xu hướng trái ngược nhau: 1 bên là xu hướng Âu hóa về mặt văn hóa, còn bên kia là xu hướng chống Âu hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng của phương Tây.

+   Giai đoạn văn hóa Đại Nam: (1) Nhà Nguyễn thống nhất về mặt lãnh thổ và tổ chức hành chính của Việt Nam từ Đồng Văn đến Cà Mau (2)  Sau thời hỗn loạn Lê – Mạc và Trịnh – Nguyễn, Nho giáo được khôi phục nhưng đi vào suy tàn (3) Khởi đầu quá trình hội nhập của nền văn hóa phương Tây, văn hóa Việt Nam hội nhập vào nền văn hóa nhân loại.

+  Giai đoạn văn hóa hiện đại: là giai đoạn văn hóa đang định hình, tiếp nhận tư tưởng K.Marx, Lênin

2. Bản sắc văn hóa Việt

Dựa vào định nghĩa văn hóa, có thể định nghĩa văn hóa Việt Nam như sau:

Văn hóa Việt Nam là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do người Việt sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa người Việt với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

Việc nhận diện một giá trị văn hóa có phải là đặc trưng bản sắc hay không có thể dựa vào 2 dấu hiệu (1) Là một giá trị tinh thần đã tồn tại tương đối lâu dài (2) Có tác dụng chi phối các đặc điểm khác của văn hóa (các cách ứng xử và hoạt động, các giá trị vật chất)

Đặc trưng bản sắc không phải là cái duy nhất có ở nền văn hóa đó. Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc trong tính tổng thể của nó, trong sự phối hợp của cả hệ thống các đặc trưng thì phải cho phép phân biệt được nền văn hóa đó với nền văn hóa khác, dân tộc đó với các dân tộc khác.

Bản sắc văn hóa là cái gốc, cái căn tính của một dân tộc nên nó âm tính. Bản sắc văn hóa mang tính ổn định, lâu bền tương đối, nghĩa là nó vẫn có thể được điều chỉnh, biến đổi, nhưng sự thay đổi này rất chậm và khó khăn. Ví dụ, Việt Nam ngày nay đang tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa, nhưng cái căn tính nông dân vẫn ẩn tàng và biểu hiện qua ứng xử, hành động, suy nghĩ của mọi người Việt Nam.

Bản sắc văn hóa của một dân tộc, rất gần với tính cách dân tộc. Tính cách dân tộc là những đặc trưng bản sắc quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến cách tư duy, cách ứng xử và cách hành động của con người.

Dựa vào các điều trên, ta có thể định nghĩa:

Bản sắc văn hóa (cultural identity) của dân tộc Việt Nam là một hệ thống các giá trị tinh thần ổn định tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, tạo nên tính đặc thù của dân tộc Việt Nam, khu biệt dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác.

Ta có thể hình dung văn hóa Việt Nam là nhiều vòng tròn đồng tâm, tính từ trong ra ngoài, trong đó:

(1) Bản sắc văn hóa Việt Nam là vòng tròn nhỏ nhất ở giữa, chỉ chứa các giá trị tinh thần thuộc về con người Việt Nam, mà phải là giá trị cốt lõi.

(2) Vòng tròn thứ 2 là hệ tính cách văn hóa, không chứa các giá trị vật chất, nhưng có thể chứa các giá trị tinh thần không trực tiếp thuộc về con người, ví dụ như tính sông nước.

(3) Vòng tròn thứ 3 là hệ giá trị văn hóa, bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần ổn định lâu dài, được hình thành từ truyền thống văn hóa bản địa.

(4) Vòng tròn thứ 4 là hệ giá trị văn hóa vật chất và tinh thần ổn định lâu dài, đã được Việt Nam hóa, được hình thành nhờ sự giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á, phương Tây.

(5) Vòng tròn thứ 5 là hệ giá trị vật chất và tinh thần thay đổi nhanh chóng theo thời gian…

Hệ thống giá trị văn hóa, vật chất và tinh thần, của một dân tộc gồm có các thành phần: (1) Văn hóa nhận thức (nhận thức về vũ trụ – nhận thức về con người), (2) Văn hóa Tổ chức cộng đồng (VH tổ chức đời sống tập thể – VH tổ chức đời sống cá nhân) (3) Văn hóa ứng xử (VH ứng xử với môi trường xã hội – VH ứng xử với môi trường tự nhiên)

Bài viết này không xét đến hệ thống giá trị văn hóa Việt Nam, cả giá trị vật chất và tinh thần, một cách chi tiết, vì điều này có lượng kiến thức rất đồ sộ. Cho nên, đề nghị các bạn tìm đọc các quyển sách Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng, Phan Ngọc, Lê Văn Chưởng; Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm; Tiến trình văn hóa Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần.

II. Khái quát về truyện “thuần Việt”

1. Định nghĩa truyện “thuần Việt”

“Thuần Việt” là một khái niệm chưa có định nghĩa rõ ràng. Ta biết “thuần” là tính từ, có nghĩa là “không lẫn lộn”  theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, “chịu nghe theo; quen, thạo và đã luyện tập nhiều; đều một loạt, một thứ” theo từ điển Lạc Việt. Nghĩa là, ở một mức độ nào đó, có thể hiểu “thuần Việt” tức là chỉ những thứ cốt lõi, bản địa, đồng nhất, không bị pha tạp, lẫn lộn của người Việt, ví dụ: từ thuần Việt.

Như vậy, “thuần Việt” có thể xem là tương đương với khái niệm bản sắc văn hóa Việt, chỉ những giá trị tinh thần cốt lõi của người Việt. Tác phẩm văn học là một thành tố của hệ thống văn hóa, nên mang đầy đủ những đặc trưng và chức năng của văn hóa, định vị được bằng hệ tọa độ văn hóa.

Suy ra, ta có thể định nghĩa truyện “thuần Việt” như sau:

Truyện “thuần Việt” là sản phẩm văn hóa thuộc lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ, xếp vào thành phần Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, do người Việt Nam sáng tạo qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Truyện thuần Việt thể hiện được hệ thống giá trị tinh thần cốt lõi của văn hóa Việt Nam, tạo được sự khác biệt giữa truyện của dân tộc Việt Nam với truyện của các dân tộc khác.

Nói ngắn gọn, truyện “thuần Việt” là tác phẩm văn học do người Việt sáng tạo thể hiện được bản sắc văn hóa Việt.

Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có 3 đặc trưng cơ bản sau (1) Tính biểu trưng cao thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa với các cấu trúc cân đối hài hòa (2) Giàu chất biểu cảm – sản phẩm tất yếu của một nền văn hóa trọng tình (3) Tính động, linh hoạt, thể hiện trong cấu trúc ngữ pháp, khả năng khái quát cao.  Ngoài ra, truyền thống văn chương Việt Nam thiên về thơ ca hơn văn xuôi.

2. Định vị truyện “thuần Việt”

Truyện “thuần Việt” được định vị chung nhất như sau: (1) Chủ thể: truyện do người Việt sáng tạo, nói về người Việt (2) Không gian: thuộc lĩnh vực văn học Việt, thể hiện văn hóa Việt trên lãnh thổ Việt Nam (3) Thời gian: được viết trong bất cứ giai đoạn nào thuộc tiến trình văn hóa Việt, hoặc nội dung phản ánh được văn hóa Việt trong bất cứ giai đoạn nào thuộc tiến trình văn hóa Việt.

Dựa vào định vị chung này, có thể loại bỏ những truyện thuộc dạng sau: (1)  Chủ thể: không do người Việt sáng tạo, hoặc không nói về người Việt  (2)  Không gian: không thuộc lĩnh vực văn học Việt, hoặc không thể hiện văn hóa Việt trên lãnh thổ Việt Nam  (3)  Thời gian: không được viết trong bất cứ thời kỳ nào thuộc tiến trình văn hóa Việt, nội dung không phản ánh được văn hóa Việt trong bất cứ giai đoạn nào thuộc tiến trình văn hóa Việt.

Có thể thấy, số lượng tác phẩm văn học được xem là truyện “thuần Việt”  sẽ vô cùng ít.  Các tiêu chí đánh giá một truyện “thuần Việt” là vô cùng khắc khe.

Trong trường hợp này, truyện “thuần Việt” được mặc định có đầy đủ 4 đặc trưng của văn hóa Việt Nam về tính nhân sinh, tính lịch sử, tính hệ thống và tính giá trị. Mức độ ổn định và hoàn chỉnh của 4 đặc trưng này đối với từng truyện “thuần Việt” có thể khác nhau, nhưng không được dưới mức trung bình, hoặc rơi vào trường hợp “rác phẩm”.

III. Kết luận

Qua những điều đã nêu về văn hóa Việt Nam và truyện “thuần Việt”, có thể thấy thứ duy nhất không thể thay đổi trong một truyện “thuần Việt” chính là giá trị tinh thần cốt lõi của bản sắc văn hóa Việt Nam mà truyện truyền tải, còn những mặt khác đều có thể thay đổi.

Bởi vì văn hóa Việt Nam tính theo (1) chủ thể là một cộng đồng người đa sắc tộc, mỗi tộc người có bản sắc riêng (2) không gian lãnh thổ gồm 6 vùng văn hóa, mỗi vùng có những đặc điểm riêng (3) thời gian là một tiến trình văn hóa gồm 3 lớp – 6 giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc trưng riêng.

Ngoại trừ bản sắc văn hóa Việt Nam, những giá trị vật chất và tinh thần khác đều không thuần nhất, không đồng đều ở các dân tộc, các vùng miền, các giai đoạn.

Cho nên, không thể có một kiểu truyện “thuần Việt” tuyệt đối. Nói cách khác, chỉ có truyện “thuần Việt” tương đối, khi đặt truyện đó vào một hệ tọa độ cụ thể, xem xét 4 đặc trưng một cách chi tiết.

Nếu sử dụng vấn đề “thuần Việt” để bắt đầu đánh giá một truyện, sẽ bỏ qua tất cả các giá trị vật chất và tinh thần khác nằm ngoài “vòng tròn bản sắc văn hóa Việt Nam”. Dẫn đến việc thiếu tính bao quát, thiếu tính thuyết phục, không thể xem xét toàn diện hệ thống giá trị văn hóa mà tác phẩm thể hiện.

Để tránh khỏi tình trạng này, khi xem xét một tác phẩm văn học, nhìn theo hướng văn hóa, dựa vào những vòng tròn đồng tâm của văn hóa, sẽ phải khảo sát theo chiều từ ngoài vào trong, từ vòng tròn thứ (5) đến vòng tròn thứ (1).

Đề xuất:

Không dùng khái niệm truyện “thuần Việt”, chỉ dùng khái niệm truyện Việt.

Truyện Việt là sản phẩm văn hóa thuộc lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ, xếp vào thành phần Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, do người Việt Nam sáng tạo qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Truyện Việt thể hiện được một hệ thống giá trị tinh thần của văn hóa Việt Nam, tạo được sự khác biệt tương đối giữa truyện của dân tộc Việt Nam với truyện của các dân tộc khác.

Định vị truyện Việt (1) Chủ thể: do người Việt Nam sáng tạo (2) Không gian: thuộc lĩnh vực văn học Việt Nam (3) Thời gian: được viết trong bất cứ giai đoạn nào thuộc tiến trình văn hóa Việt Nam.

Để đánh giá tính lịch sử, tính nhân sinh và tính hệ thống của một truyện Việt là cao hay thấp, mời xem lại Phần 1 của loạt bài viết. Ở đây, chỉ đánh giá tính giá trị khi đi sâu vào tác phẩm.

Để đánh giá một truyện thể hiện được văn hóa Việt Nam đến mức độ nào, tức là chạm được đến vòng tròn giá trị thứ mấy từ (5) đến (1), phải tổng hợp nhiều yếu tố, các yếu tố này phải tạo nên một hệ thống chặt chẽ. Những gì được nêu ra đây chỉ là khái quát chung nhất, tùy từng trường hợp cụ thể mà có bảng khảo sát riêng, xem xét mức độ hoàn chỉnh của từng yếu tố.

- Văn phong: tuân thủ quy tắc sử dụng tiếng Việt về mặt từ ngữ và ngữ pháp đối với chữ Quốc ngữ, không chấp nhận bất cứ ngôn ngữ nào khác. Thậm chí việc đặt tên truyện bằng ngoại ngữ cũng không được phép, trừ khi những từ ngoại ngữ là thuật ngữ khoa học, hoặc có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung truyện như tên bài thơ, bài hát… Ngoài ra, nếu là tác phẩm viết bằng chữ Hán Nôm thì phải tuân thủ nguyên tắc của chữ Hán Nôm.

- Nhân vật:  mang đặc điểm tâm lý, sinh lý của con người là chủ thể thuộc nền văn hóa Việt Nam, tuy nhiên vẫn cho phép nhân vật không phải người Việt. Giá trị tinh thần mà nhân vật thể hiện phản ảnh được phần nào hệ tính cách văn hóa Việt Nam. Tạo hình nhân vật, xuất thân, hành động, ngôn ngữ… phải được thể hiện bằng văn phong, bối cảnh và tình tiết phù hợp

-  Bối cảnh: miêu tả được những giá trị vật chất và tinh thần của văn hóa Việt Nam. Những giá trị này được sáng tạo và tích lũy lâu dài, là nét đặc trưng của văn hóa Việt. Bởi vì giá trị vật chất thuộc vòng tròn thứ (3), cho nên bối cảnh thể hiện những giá trị có thể biến đổi theo thời gian. Tuy nhiên, bối cảnh phải tuyệt đối đúng với lịch sử văn hóa Việt Nam trong từng giai đoạn mà nhân vật sinh sống. Việc đầu tư cho bối cảnh để thấy được sự “thuần Việt” là vô cùng quan trọng, đòi hỏi phải nghiên cứu tỉ mỉ . Nếu bối cảnh do tác giả sáng tạo, hoặc thuộc thế giới tương lai, vẫn phải thể hiện sự hợp lý với những nét văn hóa Việt Nam được miêu tả.

- Tình tiết: không mâu thuẫn với những giá trị tinh thần của văn hóa Việt, giá trị tinh thần này thể hiện ở nhân vật của truyện, gắn chặt với thời đại mà nhân vật được đặt vào. Thông điệp truyền tải xuyên suốt thể hiện được văn hóa đặc thù của giai đoạn văn hóa Việt Nam cụ thể. Những tình tiết phải có tính hệ thống, hợp lý, không mâu thuẫn với văn phong, bối cảnh và nhân vật.

Ngoài lề:

Thông thường, xem xét một truyện được “Việt” đến mức độ nào thường dành cho cổ trang, thật ra truyện hiện đại cũng phải được tính đến. Nhưng khả năng của người viết bài này có hạn, nên xin miễn cho việc phân chia chi tiết.

Việc truyện Việt bị ảnh hưởng bởi một trào lưu văn học của nước ngoài không chỉ gần đây mới xuất hiện, ngày trước văn học phương Tây, manga Nhật Bản… đã ảnh hưởng rất nhiều trong giới viết lách trên mạng, nhưng sự ảnh hưởng này không bị gạch đá quá đáng, còn việc người viết bị ảnh hưởng bởi ngôn tình đam mỹ lại bị đả kích mạnh mẽ. Nguyên nhân bề nổi là vì giá trị của ngôn tình đam mỹ không cao, sự phản ứng quá khích của những người Việt đọc loại truyện này khi bị chỉ trích… Còn nguyên nhân sâu xa, có lẽ chính là tâm lý “bài Hoa”, hay xu hướng chống “Hán hóa”. Kiểu tâm lý này gần như là một nét văn hóa của người Việt, bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử văn hóa địa lý chính trị… của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với Trung Hoa suốt mấy ngàn năm.

Văn hóa Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc là một kiểu “đại đồng tiểu dị”. Người viết chắc tay, kiến thức sâu rộng có thể khai thác được những điểm “tiểu dị”, còn người viết không tốt thì chỉ thể hiện được vấn đề “đại đồng”. Nếu muốn đánh giá người khác, cũng cần một chút tế nhị, cũng phải xem xét trình độ của người viết. Có thể, chính bản thân người viết cũng không biết là mình đang sai ở đâu, sai cái gì. Cho nên, hy vọng những người biết hãy rộng lòng mà chỉ dẫn cho người chưa biết. Nếu đã lịch sự trao đổi, mà người viết vẫn không tiếp thu, thì xem như con bệnh đã hết thuốc chữa, không cần nhọc lòng.

Bản thân tôi nghĩ, văn hóa Trung Hoa không xấu, nền văn hóa này rất rực rỡ, rất đáng để học hỏi. Cha ông ta đã biết chọn lọc những tinh hoa để tiếp thu, biến những điều này thành của Việt Nam, vậy vì sao thế hệ chúng ta lại không thể? Sợ hãi bị đồng hóa là do bản lĩnh văn hóa kém cỏi, càng sợ hãi, càng thể hiện sự kém cỏi.

Câu kết:

“Nếu không phải truyện Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc bất cứ nước nào khác, thì đó là truyện Việt Nam”. 

.

Bài tiếp theo Phần 3:   “Kinh nghiệm” viết truyện cổ trang Việt

.

Tài liệu tham khảo:

1.Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Cơ sở văn hóa Việt Nam, giáo trình Nhập môn Văn hóa học của GS Trần Ngọc Thêm.

2. Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do GS Trần Ngọc Thêm chủ biên

3. Từ điển Lạc Việt, Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu

2. Kinh nghiệm đọc và viết truyện của bản thân + kiến thức 4 năm tích góp trên giảng đường do thầy cô truyền dạy + kiến thức tự đào bới sau khi ra trường

[ VHH ] Nếp cũ – Toan Ánh

.

nepcu

Trọn bộ Nếp Cũ của nhà nghiên cứu Toan Ánh gồm nhiều quyển. Tôi biết được 13 quyển, chia thành nhiều chủ đề. Những bài viết này thuộc dạng biên khảo nên không khô khan, chuyên khảo sát về văn hóa miền Bắc, văn hóa gốc của Việt Nam. Giọng văn đơn giản nhưng mượt mà, tạo cảm giác khá dễ chịu khi đọc.

6 quyển tôi không viết giới thiệu ở đây là:  Hội hè Việt Nam (quyển thượng và hạ), Tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng và hạ), Làng xóm Việt Nam, Con người Việt Nam. Vì những quyển này đọc cách đây 4-5 năm rồi, không nhớ rõ nữa.

1. Tiết tháo một thời, tinh thần trọng nghĩa phương Đông: Những bài viết kiểu kể những sự tích của nhiều vùng miền, nhiều nhân vật, như một loại truyện truyền kỳ hoặc giai thoại

2. Cầm, Kỳ, Thi, Họa:  Nội dung sách như cái tên. Phần Cầm được viết nhiều nhất, đề cập đến âm nhạc nói chung chứ không chỉ riêng về đàn, tức là tính cả những chuyện ca hát, của người Kinh và các dân tộc thiểu số… Phần Kỳ không nói đến cờ vây, mà là cờ tướng, đặc biệt là những trận đấu cờ người được miêu tả ở các hội hè cúng Thành hoàng làng rất thú vị, ngoài ra còn các loại cờ khác có ở Việt Nam của trẻ em.  Phần Thi viết về  thơ, các thể thơ khác nhau, câu đối… các thú tiêu khiển như thả thơ, đố thơ, tập Kiều… Phần Họa viết về tranh dân gian là chủ yếu vì Việt Nam gần như không có một nền thư họa như Trung Quốc, hoặc đã có nhưng bị phá hủy do chiến tranh, không giữ được.

3. Trẻ em chơi: Các trò chơi của trẻ em ở mọi lứa tuổi, trò chơi ngoài trời, trò chơi dưới nước, trò chơi trong các dịp hội hè đặc biệt

4. Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình và lễ tết hội hè: Nói về mọi mặt đời sống gia đình, thành phần gia đình, sinh con, nuôi con từ thời còn trong bụng mẹ đến lúc trưởng thành, gây dựng con cái, cả việc dạy học  thi cử ngày xưa, phong tục trong xây nhà dựng cửa. Các dịp lễ tết của người Việt được nói đến rất đầy đủ suốt cả năm, Tết năm mới của một vài dân tộc thiểu số cũng được nhắc đến.

5. Bó hoa Việt Bắc: Nói về những người phụ nữ miền Bắc của những vùng quê nổi tiếng đi vào ca dao thành ngữ. Qua quyển sách này thấy được cuộc sống của người dân quê rất bình dị mộc mạc và tươi đẹp. Tuy nhiên, cuộc sống của người phụ nữ lại không được may mắn bởi vì xã hội cổ truyền trọng nam khinh nữ, cho dù khi còn trẻ chị em vẫn trêu chọc các chàng trai bằng câu hát thì về nhà chồng là gánh cả giang sơn nhà chồng, khổ sở cùng cực.

6. Trong họ ngoài làng, Ta về ta tắm ao ta, Phong tục xưa đối với phụ nữ Việt Nam: Viết về cách xưng hô của người Việt, cách đối xử của mọi người vào những năm đầu thế kỷ 20. Những biểu tượng văn hóa của làng quê Việt như cây đa, đình làng, ao làng, sông làng, giếng nước, bến đò, lũy tre, làng dưới nước… Phong tục đối với phụ nữ là một phần rất ngắn, nói chung là đọc quyển 5 thì chi tiết hơn.

7. Hương nước hồn quê: Gồm 3 phần. Gương xưa tích cũ như việc Hòn Vọng Phu, vượt Vũ Môn, trẻ mục đồng… gắn với những câu ca dao được lưu truyền. Trong nếp sông nói với những thói xấu của phụ nữ, đàn ông, cờ bạc, rượu chè… Ca dao tục ngữ địa phương từ Bắc chí Nam, ngoài ra có phần thưởng thức trà và tục ăn trầu cau.

Tóm lại, đây là bộ sách rất có ích đối với việc tìm hiểu phong tục tập quán truyền thống của người Việt đầu thế kỷ 20, có rất nhiều ca dao tục ngữ thơ văn. Cho dù tôi không tham dự được vào cuộc sống này, không hít thở được bầu không khí này, nhưng vẫn cảm được một chút gì đó về những nét văn hóa đẹp.

[ VHH ] Trà Kinh – Vũ Thế Ngọc

.

Tra kinh

.

Có thể đọc bản online Trà Kinh tại  Thutra.com

Trà Kinh của Vũ Thế Ngọc là một quyển sách viết khá nhiều về trà thế giới và Trung Quốc, trà Việt chỉ chiếm một phần nhỏ. Sách được chia thành 7 phần: I. Trà sử; II. Trà lục; III. Trà danh; IV. Trà hữu; V. Trà cụ; VI. Trà việt; VII. Trà sinh. Có thể nói sách khái quát khá đầy đủ về trà nói chung.

Đọc xong có thêm nhiều kiến thức về vùng đất được mệnh danh là cái nôi của cây trả của cả thế giới, Trung Quốc. Một phần nói về Trà Kinh của Lục Vũ. Nếu ai không có điều kiện đọc Trà Kinh của Lục Vũ thì có thể đọc thẳng vào quyển này. Với bản thân tôi, vì tìm hiểu tư liệu để viết truyện nên cảm thấy Trà Kinh của Lục Vũ không giúp được gì so với Trà Kinh của Vũ Thế Ngọc.

Nếu so với Văn minh trà Việt của Trịnh Quang Dũng thì quyển sách này khái quát hơn, dễ tiếp cận hơn, viết ngắn gọn hơn, dễ nhớ hơn với những ai mới làm quen với nghệ thuật thưởng trà. Tác giả là một người thưởng trà lâu năm, cho nên ngoài kiến thức kinh sách, còn có kinh nghiệm thực tiễn của bản thân được giới thiệu nên khá sống động, tuy cũng có phần chủ quan chưa hợp lý.

Nói tóm lại là mỗi một cuốn sách viết về trà đều có cái hay riêng, nên cứ đọc hết đi để tăng thêm kiến thức.

[ VHH ] Văn minh trà Việt – Trịnh Quang Dũng

.

van minh tra viet

.

Văn minh trà Việt của nhà nghiên cứu Trịnh Quang Dũng do nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành. Đây là cuốn sách lớn gồm 400 trang, lượng kiến thức khá đồ sộ được chia ra 4 phần chính: I. Minh triết cội nguồn trà Việt; II. Nghệ thuật thưởng trà Việt; III. Hành trình trà cụ Việt xuyên thế kỷ; IV. Nghiệp chè Việt.  Khi đọc xong cuốn sách này, tôi vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn. Không phải vì tác giả viết không hay, thiếu logic hay hạn chế về tư liệu, mà vì trà Việt có quá nhiều thứ tác giả không thể viết hết, tác giả đã phải biên tập và bỏ đi nhiều để quyển sách cô đọng khi xuất bản. Tôi thật sự mong được đọc một công trình lớn hơn về trà Việt.

Không giống như Trà kinh của Lục Vũ chỉ nói về trà Trung Quốc, Trà Kinh của Vũ Thế Ngọc về trà nói chung và một phần trà Việt. Văn minh trà Việt chỉ nói về trà Việt, một cách chi tiết, đa dạng và phong phú, cả về mặt thời gian, không gian và chủ thể. Tuy cũng có hạn chế vì tinh thần dân tộc quá cao nên vài nhận định khá chủ quan thiếu thuyết phục, nói cách khác là chém gió. Tôi thích nhất là những bài thơ, ca dao được sách dẫn ra để nói về trà.

I. Minh triết cội nguồn trà Việt: Nói về cội nguồn cây trà, tư liệu từ nhiều nguồn như truyền thuyết, lịch sử, địa lý, thư tịch, sinh vật học, khảo cổ học… Nói về triết lý và thuộc tính của trà Việt, đường Trà Mã Cổ Đạo… Biên niên sử về trà Việt trước và sau công nguyên

II. Nghệ thuật thưởng trà Việt: Được phân ra thành nghệ thuật thưởng trà dân giá với trà tươi, tức trà xanh, trà nụ, trà đá và cả cách chơi cây kiểng là các lão trà nổi tiếng mấy trăm tuổi; Nghệ thuật thưởng trà cung đình nhấn mạnh vào triết lý Trà Nô, từng loại trà cụ và những vật liên quan như than, bếp lò, trà đình… Phân loại trà, cách pha trà, cách thưởng trà… Các nguồn danh thủy của Việt Nam. Các loại danh trà Việt Nam vẫn còn hoặc đã thất truyền, suốt chiều dài đất nước.

III. Hành trình trà cụ Việt xuyên thế kỷ: Chia theo thời gian từ cổ đại Văn Lang – Âu Lạc – Nhà Triệu cho đến các vương triều phong kiến Việt Nam trong suốt một ngàn năm, và cả thời hiện đại với những dòng gốm sứ xuất khẩu. Đọc phần này sẽ hiểu thêm nhiều điều về lịch sử gốm sứ của Việt Nam như Chu Đậu, Bát Tràng, Bình Dương… Sự giao lưu về trà cụ với nước ngoài, cả Đông lẫn Tây.

IV. Nghiệp chè Việt: Giới thiệu về nghề trà trong lịch sử Việt Nam, những vùng trồng chè nổi tiếng theo thời gian và không gian. Cách chế biến những loại trà đặc sản. Nghề kinh doanh trà Việt từ xưa đến nay trên khắp mọi miền đất nước.

Đọc qua quyển sách này, tôi thật sự rất tự hào vì Việt Nam đã có một nét đẹp văn hóa về trà suốt ngàn năm như vậy. Trà Việt dù được thưởng thức theo cách cầu kỳ hay dân dã đều mang màu sắc Việt Nam. Trà xuất hiện trong đời sống văn hóa hàng ngày của người Việt, là điều phải bảo tồn, phát huy và trân trọng. Nói chung là ai mê văn hóa thì nên đọc quyển này, vì sách còn có một list tài liệu tham khảo để bạn mở rộng kiến thức, ai thích viết cổ trang cũng nên đọc.

 

[ Sơn Hà ] Giới thiệu

.

Giới thiệu

.

Lễ nghi học sĩ Nguyễn Xuân Hương cùng cha là quan Hành khiển Gián nghị đại phu Nguyễn Trung bị vu oan hạ độc hoàng đế, âm mưu cướp ngôi đoạt vị trong vụ án Lệ Chi Viên, luận tội tru di tam tộc.

Ỷ Đào nguyên phi Dương Hồng Hạc bị giam vào lãnh cung, buộc phải tuẫn táng theo hoàng đế cùng bảy mươi hai cung nhân. Thái tử Lê Càn Đức tròn hai tuổi qua đời vì bệnh đậu mùa.

Thuận Trinh hoàng hậu Mạc Ngư Dung tư thông với Điện tiền chỉ huy sứ Mạc Lý Nguyên, cướp ngôi nhà Lê bằng cách lập công chúa Lê Thiên Hinh lên ngôi hoàng đế khi mới bảy tuổi, cho nàng kết hôn với Mạc Cảnh rồi dựng nên vở tuồng “vợ nhường ngôi cho chồng”

Phụng Càn vương Lê Nhật Trung là người duy nhất thoát khỏi bẫy sập chôn sống toàn bộ tôn thất nhà Lê trong lễ cúng tế tổ tiên ở Hoa Lư, chiêu binh mãi mã chống lại họ Mạc, tạo thành tình cảnh nội loạn thảm khốc.

Nhà Tống lợi dụng cơ hội, liên kết với Chiêm Thành tạo nên thế gọng kìm Nam – Bắc đánh vào Đại Nam. Giặc ngoại xâm tiến quân thần tốc uy hiếp kinh thành Thăng Long.

Thái úy Lý Thường Tuấn bị giam trong ngục vì liên can vụ án Lệ Chi Viên được thả, lãnh binh dựng phòng tuyến ở sông Như Nguyệt, cầm cự hơn một tháng, cuối cùng thất thủ hy sinh.

Chưa đầy hai năm sau khi ngài chết, triều đại thay đổi, sơn hà nguy biến. Nhà Mạc có tướng tài nhưng không có được lòng dân, nước mất nhà tan, dân chúng lầm than…

Mở mắt ra nhìn bầu trời tháng ba ảm đạm, những đóa hoa gạo bung nở rực rỡ như lửa đỏ rơi rụng quanh người, ngài không biết chuyện kia là cuộc đời  thật sự mình đã trải qua, hay chỉ giấc mộng báo trước tương lai tăm tối. Nhưng ngài biết mình là Lê Nhật Tôn, thái tử của vương quốc Đại Nam. Ngài biết mình sẽ không để vận mệnh xoay chuyển như đã thấy khi bước lên ngôi cửu ngũ chí tôn…

p/s: Chỉ là đặt gạch thôi mà =))

[ Tự kỷ ] Mạnh mẽ và quyết liệt, không có nghĩa là thô bỉ

.

Tình cờ đọc được tên sách “Xoạc cẳng đợi mùa xuân” trong một confession, sau đó lên tiki thì thấy nên vào xem thử, đọc được giới thiệu thế này: “50 truyện ngắn là những câu chuyện chưa bao giờ được kể, những góc khuất chưa bao giờ được hé lộ. Đây là cơ hội để người đọc có thể được biết, được hiểu, để chia sẻ với cộng đồng LGBT. Xoạc cẳng đợi mùa xuân tập hợp những tác phẩm hay nhất được lựa chọn từ 354 truyện gửi về cuộc thi “Cầu vồng sáu sắc” năm 2013. (Theo motthegioi.vn)”

Sau đó, tôi lại đọc được một vài viết giải thích minh oan cho cái tựa sách trên tienphong “Vì đâu “xoạc cẳng”  http://www.tienphong.vn/van-nghe/vi-dau-xoac-cang-729197.tpo  Tôi vẫn không nuốt nổi cái tựa sách với những lý luận như vậy. Nhưng có sao đâu há, cuộc sống mà, người ta làm vì người ta có quyền lợi trong đó, nếu càng nhiều người đọc vì cái tựa gây sốc thì càng tốt đúng hem, bởi vì có thể mang nội dung sách đến với những người chưa biết gì, chưa hiểu gì về LGBT.

Nhưng với một đứa thích sách và chuyện viết lách, ủng hộ cộng đồng LGBT như tôi, ủng hộ họ sống thật, với đầy đủ ý nghĩa của cái câu “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không thể tước bỏ được, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” thì cái tựa sách, giống như một cái tát vào mặt. Mục đích thay đổi cách nhìn của xã hội đối với cộng đồng LGBT như thế này, tôi chưa biết thành công bao nhiêu, nhưng tôi có cảm giác tựa sách hủy hoại sự nghiêm túc, văn minh và lịch sự của thông điệp truyền tải.

Cái tựa sách, nói khó nghe một chút, là đội tình dục lên đầu, làm tôi liên tưởng đến cái đám truyện đầy H bị chửi hiện giờ, sự câu khách một cách thô bỉ và rẻ tiền. Nói tôi phiến diện cũng được, chỉ vì cái tựa liền vứt bỏ phần nội dung, nhưng tôi có quyền thể hiện thái độ. Và với cái tựa như vậy, thì tôi sẽ bye bye cuốn sách. Và tôi thấy thất vọng với một tổ chức như Trung tâm CSAGA.

Tình dục trong văn học, vấn đề này hông mới, người ta cũng chửi, cũng cãi, cũng ủng hộ, cũng bàn tá lả hột dưa rồi. Tôi cũng không phải trong sáng thánh thiện gì, viết về nó thì được thôi, nhưng vấn đề là viết như thế nào, thể hiện như thế nào để người ta không thấy phản cảm. Với tôi thì, LGBTI hay S cũng đều như nhau thôi. Sống như thế nào để người ta không cảm thấy bạn là thứ thấp kém trong xã hội.

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

*Hồ Xuân Hương*

Cũng là từ “xoạc cẳng” đấy thôi, nhưng hành động được kết hợp với từ ngữ tạo ra sự độc đáo trong cách sử dụng, ý nghĩa sâu xa về sự mạnh mẽ quyết liệt để đấu tranh giành quyền bình đẳng cho những người bị áp bức trong xã hội, thì khác nhau lắm.

Sẵn đây nói luôn, tác phẩm làm tôi cảm thấy dễ chịu nhất về đồng tính của Việt Nam, là Sông của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, mặc dù tác giả nói rằng khi viết không chú ý nhiều đến giới tính nhân vật, chủ đề đồng tính cũng không phải là chính. Với lại, tôi thần tượng Sigmund Freud, vì ông đã chỉ ra được những mảng tăm tối trong con người về tình dục, nhưng không có nghĩa ông ủng hộ sự bản năng đó.