[ LS ] Lịch sử nhìn lại dưới góc độ y khoa – Bùi Minh Đức

.

.

Đây là một cuốn sách lịch sử nhưng được nghiên cứu dưới góc độ y học. Có thể nói, đây là một cách nghiên cứu khá mới ở Việt Nam, chứ thế giới thì nhiều rồi. Quyển sách cung cấp một lượng kiến thức y học khá thú vị và bổ ích. Những vấn đề lịch sử được nhìn lại một cách hấp dẫn mới mẻ. Cách viết của tác giả cũng dễ tiếp cận, cho dù người chưa từng học qua y như tôi cũng có thể hiểu được phần nào.

Những vấn đề mà sách bàn đến liên quan đến các nhân vật như: Hoàng hậu họ Dương của vua Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, bệnh của vua Lê Đại Hành và Lê Long Đĩnh, Hoàng hậu Thuận Thiên, Nội hôn của nhà Trần, Lý Chiêu Hoàng, Triều Nguyễn với vua Minh Mạng và Tự Đức, phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, cái chết của vua Quang Trung…

Ngoài ra, khảo sát về chân dung của những người Pháp ở thuộc địa (Việt Nam), Tội tử hình ngày xưa, Tam ban triều điển (kiếm/kéo, thuốc độc, dải lụa trắng)

Các thông tin cung cấp rất bổ ích, tuy nhiên cũng gặp phải một vài sai lầm. Bởi vì tác giả chủ yếu lấy tư liệu từ những bộ sử, hoặc dùng những giả thuyết chưa được chứng thực, cho nên kết luận từ những giả thuyết như vậy cũng chỉ là một giả thuyết tiếp theo, chưa kể có thể sai hoàn toàn.

Ví dụ như việc tác giả viết về Trâu Canh đã chữa bệnh bất lực cho vua Trần bằng một phương thức mất nhân tính, dù y thuật tài năng. So với tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần, tác giả đã nhầm lẫn giữa Trâu Tôn và Trâu Canh, gộp cả 2 người thành 1 người, trong khi Trâu Tôn là cha của Trâu Canh, cùng là thái y dưới triều Trần.

Ví dụ khác là tác giả dùng thuyết của nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, cho rằng Trần Quốc Tuấn là con trai của Thuận Thiên và Trần Liều. Nhưng thật ra Trần Quốc Tuấn là con của 1 người vợ khác của An Sinh Vương.

Nói chung, đây là một cuốn sách lịch sử đáng đọc, bỏ qua những sai sót nho nhỏ của sách, bạn sẽ thu được những thông tin rất thú vị, có thể nói là những suy luận theo hướng khá là… tăm tối.

[ Dư âm ] Bếp củi

.

bepcui_BHLM_jpg

.

Có quá nhiều loại bếp, bếp điện, bếp gas, bếp từ, bếp dầu, bếp than… Nhưng loại bếp để lại ấn tượng sâu sắc nhất với tôi là bếp củi. Loại bếp này chẳng tiện lợi gì, chúng đầy khói bụi và lọ đen đòi hỏi phải lau chùi hằng ngày, chưa tính việc phải chặt củi và việc điều khiển ngọn lửa vô cùng vất vả. Nhưng bếp củi gắn với những ký ức tuổi thơ của tôi, một khoảng thời gian rất dài, và gắn với mẹ tôi.

Ăn một món ăn nấu từ bếp củi, là do cảm giác hay thật sự là vị giác, tôi luôn cảm thấy nó ngon hơn nấu bằng bất cứ loại bếp nào khác, đặc biệt là những món đơn giản bình thường trong bữa ăn hàng ngày. Mẹ thường làm món cá nướng lá chuối, bằng cá biển, hoặc cá đồng, quấn hai ba lớp lá chuối quanh khúc cá rồi nướng. Mùi lá nướng ám vào thịt cá, thơm phức, nhưng cá không bị khét. Tôi cũng thích ăn cơm cháy vàng rộm với chà bông, nấu bằng nồi đất hoặc nồi gang. Bánh xèo đổ bằng bếp củi thì khỏi chê.

Có lẽ tôi bị nghiện mùi khói bếp và hình ảnh của lửa cháy bừng bừng do củi khô, cả tiếng nổ lép bép của chúng. Tôi thích hình ảnh khói bay từ căn bếp, lượn lờ trong những tán cây xanh quanh nhà vào buổi chiều nhàn nhạt nắng, cảm giác buồn bã và bình yên.

Đôi khi quăng vào bếp lửa một vài hột nhãn và chờ chúng bị nướng cháy, nổ lên. Cái thứ trò vui mà người lớn thường gọi là “chơi ngu”. Hoặc quăng vào bếp vài củ khoai hay trái bắp, khoai không rửa và bắp không lột vỏ, thậm chí là những thứ không ăn được, đơn giản là thích mùi thơm thơm của chúng khi bị nướng lên. Trong lúc nướng cái gì đó, sẽ ngồi lấy củi nghịch nghịch mấy hòn than đỏ. Cả chuyện dùng ống thổi lửa khi than tàn cũng rất vui, thổi thổi, lửa bùng lên.

Tóm lại là, có rất nhiều trò để làm với một cái bếp củi mà những loại bếp khác không thay thế được.

Mỗi loại củi khác nhau, sẽ cháy theo kiểu khác nhau. Củi tre cháy rất nhanh, lửa bắn thành tia thẳng và mỏng quanh thân củi. Những loại củi ướt sẽ có tiếng xèo xèo, nước chảy ra từ đầu còn lại không bị cháy. Củi mận rất khó cưa và chẻ nhỏ, cháy cũng chán, không bắt lửa mạnh. Củi sao than rất nhiều, cháy mạnh. Cẩm lai cành nhỏ, khô rất dễ nhóm lửa. Bạch đàn có mùi dầu khuynh diệp, lá nhóm lửa rất tuyệt, cành nhánh nhỏ cũng vậy, nhanh bắt lửa như lá dừa khô…

Đến giờ tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên mình chiên trứng. Tất nhiên, bằng bếp củi. Củi bạch đàn khô, cháy đượm. Chảo nóng, da tay gần như bị phỏng. Tôi không điều khiển được ngọn lửa. Trứng khét, cháy đen và rơi rớt ra ngoài. Năm đó tôi 8 tuổi. Nhưng chiên đến quả trứng thứ 2 thì mọi chuyện tốt hơn hẳn. Có kinh nghiệm rồi mà.

Chỉ là bài lảm nhảm của một con nghiện bếp củi thôi mà.
Nhưng nếu nấu ăn thì mình s chọn bếp gas, bếp củi để ngắm chơi thôi. Lâu lâu đốt lên quăng vài thứ vô đó nướng.

.

[ Tự kỷ ] “Kinh nghiệm” viết truyện cổ trang Việt

.

Bài viết trước  Phần 2:  Truyện “thuần Việt” là như thế nào

.

“Kinh nghiệm” viết truyện cổ trang Việt

Được viết bởi:   Bạch Tử

.

Bài viết này dùng để hướng dẫn cách viết truyện cổ trang Việt. Nhưng nội dung xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân của tôi, nên có thể phù hợp với bạn, hoặc không. Tôi chưa có khả năng nâng kinh nghiệm riêng tư của mình lên tầm phổ quát, nên kinh nghiệm này còn nhiều thiếu sót, có thể đúng, hoặc không. Nếu bạn không thể áp dụng được nó, tôi đành cáo lỗi vậy. 

Điều kiện tiên quyết để đọc bài viết này là đọc trước Craft Of Writing – Nghệ thuật viết của Kal Kally, để nắm được những vấn đề tổng quát và chi tiết của việc viết một truyện, thuộc bất cứ thể loại nào. Đồng thời, đọc xong 2 bài viết, Phần 1: “Rác phẩm” dưới góc nhìn văn hóa Phần 2: Truyện “thuần Việt” là như thế nào, để nắm được những tiền đề lý luận xuyên suốt của loạt bài viết. 

Truyện cổ trang Việt mà tôi đề cập ở đây, chỉ bao gồm những truyện sử dụng bối cảnh văn hóa Việt Nam.

I. Tìm kiếm tư liệu

Viết một truyện cổ trang Việt, thậm chí là truyện hiện đại Việt, đối với tôi giống như làm một tiểu luận khoa học kết thúc môn, nghĩa là phải tìm tư liệu. Không nên viết những thứ mà mình không biết. Vì đó là sự cẩu thả, thiếu tôn trọng đối với tác phẩm mình tạo ra, bản thân mình và người đọc. Nếu không hiểu sâu sắc về điều định viết, cũng phải hiểu một cách tương đối.

1. Loại hình tư liệu

- Tư liệu thành văn:   Bao gồm các loại sách, báo, tạp chí, hoành phi, câu đối, thiếp, sắc chỉ, mộc bản, văn bia…

- Tư liệu nghe nhìn:  Bao gồm tranh ảnh, phim tư liệu, phim truyện, tin vắn trên đài phát thanh truyền hình, internet…

- Tư liệu thực tế:  Những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn được lưu giữ cho đến ngày nay như đình, chùa, miếu, lăng tẩm, cung điện…  chèo, tuồng, cải lương, quan họ, cồng chiêng…

Trong 3 loại tư liệu này, tư liệu thành văn và tư liệu nghe nhìn dễ tiếp cận hơn tư liệu thực tế. Mỗi loại tư liệu đều có ưu điểm và khuyết điểm riêng, tốt nhất là kết hợp cả 3 loại nếu có điều kiện.

2. Nội dung tư liệu

Bởi vì bài viết trước Phần 2 đã nêu định nghĩa, định vị về văn hóa Việt Nam. Cho nên, bài viết này sẽ đi thẳng vào những thành phần văn hóa Việt. Dựa vào hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần tổng quát này, bạn có thể tìm tư liệu mà không sợ bỏ sót.  Tùy vào nội dung truyện mà lựa chọn thành phần văn hóa cần tìm hiểu.

Trước khi tìm kiếm tư liệu, phải định vị được chủ thể – không gian – thời gian trong truyện. Tất nhiên, trong quá trình viết truyện, 3 yếu tố này có thể mở rộng, tùy theo diễn biến của nội dung truyện. 3 yếu tố càng rộng, yêu cầu tư liệu càng nhiều.

Ví dụ: (1) Chủ thể:  người Kinh, cụ thể là tầng lớp quý tộc (2) Thời gian: Giai đoạn văn hóa Đại Việt, cụ thể là thời Lý (3) Không gian: Vùng văn hóa Bắc bộ, cụ thể là Thăng Long.

Nếu không có tiền mua sách hãy đến thư viện, không thể đi khắp mọi miền đất nước hãy đến bảo tàng. Tư liệu lấy từ mạng internet phải được chọn lựa cẩn thận, wiki chỉ để tham khảo những gì cơ bản nhất chứ không phải là tư liệu đáng tin cậy nhất

Đầu tiên là đọc những bộ sách sử của Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Quốc Triều chính biên toát yếu, Việt Nam sử lược… Sau đó là đọc chuyên sâu lịch sử từng giai đoạn, nhân vật.

Đọc những cuốn sách văn hóa cơ bản:  Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XIX, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Cơ sở văn hóa Việt Nam… Sau đó tìm hiểu từng thành phần cụ thể của văn hóa Việt qua các tài liệu chuyên sâu khác.

Nếu viết thể loại thần tiên huyền ảo nên đọc những sách này trước: Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Nam hải dị nhân, Truyền kỳ mạn lục, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam… Các sách về tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam… Đặc biệt nên tìm hiểu  tín ngưỡng, thần thoại, sử thi, truyền thuyết… của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

2.1. Văn hóa nhận thức 

+  Nhận thức về vũ trụ: (1) Tư tưởng xuất phát về bản chất của vũ trụ: triết lý Âm Dương, Tứ tượng (2) Cấu trúc không gian của vũ trụ: mô hình Tam tài – Ngũ hành – Bát quái (3) Triết lý về thời gian của vũ trụ: lịch Âm Dương, hệ Can Chi

+ Nhận thức về con người:  tâm lý, diện mạo, tính cách

2.2. Văn hóa tổ chức

+  Văn hóa tổ chức đời sống tập thể:

-   Tổ chức nông thôn:  (1) Theo huyết thống : gia đình và gia tộc (2) Theo địa bàn cư trú: xóm và làng (3) Theo nghề nghiệp và sở thích: Phường và Hội (3) Theo truyền thống nam giới: Giáp (4) Theo đơn vị hành chính: thôn và xã

-  Tổ chức quốc gia: (1) Địa lý hành chính (2) Bộ máy quan lại (3) Hệ thống pháp luật (4) Chế độ khoa cử (5) Quân sự

-  Tổ chức đô thị

+ Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân:

-   Tín ngưỡng: (1)  Tín ngưỡng phồn thực (2) Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: tam phủ tứ phủ, linh thú, linh vật… (3) Tín ngưỡng sùng bái con người: thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc, các vị nhân thần và nhiên thần…

-   Tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo, Đạo Giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo

-  Phong tục:  (1) Hôn nhân (2) Tang ma (3) Lễ tết truyền thống  (4)  Nghi lễ quốc gia

-  Nghệ thuật ngôn từ: (1) Ngôn ngữ và cách thức giao tiếp (2) Văn chương

-  Nghệ thuật thanh sắc và hình khối:  âm nhạc, hội họa, điêu khắc, sân khấu, hoa kiểng, trò chơi

2.3. Văn hóa ứng xử

+  Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên: ẩm thực, trang phục, giao thông, kiến trúc

+  Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội:

(1) Sĩ gồm các nghề  Nho (thầy đồ, thư sinh)  Y (thầy thuốc)   Lý (thầy địa lý)   Số (thầy bói)

(2) Nông gồm các nghề  ngư (đánh bắt cá)   tiều (đốn củi, đốt than) canh (trồng trọt)   mục (chăn nuôi)

(3) Công gồm các nghề thủ công truyền thống như  đúc đồng,  rèn dao,  đồ gốm,  dệt vải,  in khắc,  đan mây tre…

(4) Thương nghề buôn bán, lớn và nhỏ

(5) Những nghề hèn hạ gồm có con hát, kỹ nữ, đòi nợ, làm mõ, đi hầu, trộm cắp.

II. Sử dụng tư liệu

Phần này, tôi chỉ nêu những điều quan trọng cần chú ý, không phải là tất cả đối với việc viết truyện cổ trang Việt. Bởi vì tôi mặc định bạn đã đọc  Craft Of Writing – Nghệ thuật viết của Kal Kally. Văn hóa Việt Nam so với Trung Hoa là kiểu “đại đồng tiểu dị” cho nên hãy cố gắng tìm những nét “tiểu dị” về văn hóa để viết.

1. Ngoài lề

+   Thể loại truyện đã được quy định bởi một hệ thống thuật ngữ chuẩn mực. Nếu ai chưa đọc thì hãy đọc Fiction/Fan Fiction: Glossary & References  và The world of fan fiction của Kal Kally. Từ khi trào lưu đam mỹ ngôn tình xuất hiện, một dạng giới thiệu khác được hình thành với các từ mới như: văn án, tiết tử, huyền huyễn, ngôn tình, đam mỹ, cường thủ hào đoạt, trọng/trùng sinh, dị giới, xuyên không, xuyên việt, tu tiên, cung đấu…

Có thể nói, chỉ cần nhìn vào phần giới thiệu sẽ nhận ra tác giả bị ảnh hưởng bởi trào lưu văn học nào. Thông thường, hệ thống thể loại fiction sẽ gây thiện cảm nhiều hơn hệ thống từ mới. Vì sao? Vì những từ mới thường là thuần túy phiên âm chữ Hán, vì sự định kiến của người đọc với đam mỹ ngôn tình xuất phát từ vấn đề “thuần Việt”

Như vậy, để tránh ác cảm ngay từ cái nhìn đầu tiên, có 2 lựa chọn (1) Sử dụng hệ thống thể loại của fiction bằng tiếng Anh mang tính phổ quát gần như toàn cầu (2) Tự tạo hệ thống thể loại của bạn bằng cách dịch những từ chỉ thể loại của fiction ra tiếng Việt, chuyển từ “thuần túy phiên âm chữ Hán” sang tiếng Việt.

Ví dụ:  supernatural = siêu nhiên, horror = kinh dị, xuyên không = vượt thời gian, cung đấu = cung đình, văn án = giới thiệu, huyền huyễn = huyền ảo/ huyền bí/ kỳ bí…

Nếu truyện của bạn thật sự được viết theo kiểu truyện Trung Quốc thì bạn hoàn toàn được quyền ghi thể loại với hệ thống như của truyện Trung Quốc, và hãy cảnh báo người đọc đừng xem xét truyện của bạn bằng văn hóa Việt Nam. Nhưng điều này sẽ không được chấp nhận với thể loại truyện mà nguyên tác là nhân vật Việt Nam như:  Sơn Tinh,  Thủy Tinh, Lưu Bình, Dương Lễ, Tiên Dung, Chữ Đồng Tử…

+   Tên truyện cổ trang có thể dùng từ thuần Việt, nhưng người viết có xu hướng dùng từ Hán Việt nhiều hơn, vì có cảm giác cổ kính và trang trọng hơn; có thể dùng một câu phiên âm chữ Hán, nhưng câu  này phải đóng một vai trò quan trọng nhất định trong truyện.

Ví dụ:  tên truyện là “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”, thì nội dung truyện phải có hoa mai xuất hiện xuyên suốt hoặc những đoạn quan trọng, câu thơ mang ý nghĩa hẹn ước giữa các nhân vật chính, nhành mai duy nhất được họ tặng nhau…

+   Khuyến khích thêm những chú thích nho nhỏ về văn hóa Việt, tư liệu tham khảo ở cuối chương truyện, vì điều đó thể hiện sự đầu tư một cách nghiêm túc tử tế của bạn cho truyện, nâng cao giá trị truyện và gây thiện cảm.

2. Văn phong

+  Tuyệt đối không sử dụng từ thuần túy phiên âm chữ Hán. Để biết từ nào là thuần túy phiên âm, từ nào là Hán Việt có trong tiếng Việt, hãy tra từ điển cẩn thận. Tra Từ điển tiếng Việt chứ không phải Tự điển Hán Việt, vì “từ” và “tự” khác nhau, tự điển Hán Việt chỉ dùng nghiên cứu tra từ nguyên gốc. Trong tiếng việt có từ đơn và từ ghép. Việc bạn ghép hai từ đơn có nghĩa, chưa hẳn tạo ra từ ghép có nghĩa được công nhận trong tiếng Việt.

Ví du: kinh diễm, ôn nhu, băng lãnh, âm trầm, lãnh khốc… những từ này tính ra khá hay, thậm chí không có từ mang nghĩa tương đương thay thế trong tiếng Việt. Nhưng chúng chưa được công nhận trong tiếng Việt. Khi nào được, hẳn tính.

Chú ý sử dụng cấu trúc câu đúng ngữ pháp tiếng Việt. Để làm điều này phải đọc sách ngữ pháp tiếng Việt , đọc nhiều tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam.

Ví dụ: 2 câu cùng nói về 1 việc, nhưng sử dụng cấu trúc và từ ngữ khác nhau, câu nào Việt Nam hơn?

 “Như thế nào không thể cứu sống hắn?”  –  “Tại sao không thể cứu sống hắn?”
“Tôi hơn ai hết chính là đang dùng sức mình”  –  “Tôi đang dùng chính sức mình hơn bất cứ ai”

+   Xưng hô trong truyện giữa các nhân vật dựa vào nhân vật đó thuộc tầng lớp nào của xã hội, thuộc thời đại nào, với đối tượng nào. Các sách sử đều dùng chữ Hán, cho nên tạm thời sử dụng kiểu xưng hô từ thời Nguyễn về sau.

Sử dụng các từ Hán Việt như đại nhân, lão gia, phu nhân, tiểu thư, thiếu gia, công tử, cô nương, mẫu thân, phụ thân, huynh đệ tỷ muội … cho các gia đình phú quý, tuy có thể chấp nhận ở một chừng mực nhất định, nhưng bạn sẽ vô cùng vất vả để tạo không khí cổ trang Việt bằng những chi tiết khác.

Ví dụ:  Chi tiết trao đổi giữa cô chủ và người làm trong nhà,  sử dụng cách nào là lựa chọn của bạn

“Lão Lý, phụ thân của ta đâu?” – “Thưa tiểu thư, đại nhân vừa sang nhà Phương lão gia”
“Bác Lý, cha của ta đâu?” – “Dạ bẩm cô, quan lớn vừa sang nhà cụ Phương”

Việc sử dụng đại từ xưng hô tôi hay ta không có sự bắt buộc. Tạo sự cách biệt thân phận lớn sử dụng ta, tạo sự bình đẳng hơn dùng tôi, còn vua chúa chỉ là ta, trẫm.  Hạn chế dùng ta – ngươi, trừ khi tỏ thái độ khinh miệt, trịch thượng.

+   Văn thơ trong truyện phải phù hợp với  không gian, thời gian và chủ thể đã định vị. Nếu viết lịch sử hay dã sử Việt thì vấn đề này càng khắc khe hơn. Không thể dùng thơ có thời gian ra đời ở giai đoạn văn hóa sau, để đặt vào một truyện thuộc giai đoạn văn hóa trước. Nếu là thơ bạn sáng tác, hoặc cốt truyện được viết theo kiểu “tự tạo thế giới riêng” không phải chú ý vấn đề này. Khuyến khích sử dụng thơ lục bát, song thất lục bát, cao dao, đồng dao…

Ví du:  Định vị thời gian của truyện là Giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc.  Thơ bạn cho vào truyện là: “Nhân diện bất tri hà xứ khứ.  Đào hoa y cựu tiếu đông phong”. Bạn cảm thấy có hợp lý không?

 3. Nhân vật

Xây dựng nhân vật gồm các yếu tố:  lý lịch, xuất thân, tính cách, ngoại hình… Tầng lớp quan lại quý tộc Nho học  tiếp thu văn hóa Trung Hoa nhiều hơn bình dân.

+   Ngoại hình nhân vật là một điểm để thể hiện trang phục Việt, một yếu “tiểu dị” thuộc văn hóa vật chất không nên bỏ qua, như việc nhuộm răng, ăn trầu, xăm mình…  Mỗi giai đoạn văn hóa Việt đều có đặc điểm trang phục riêng, các tầng lớp trong xã hội trang phục cũng khác, nghiên cứu để không nhầm lẫn. Trong đó, lớp văn hóa bản địa có trang phục khác hơn hắn.

Ví dụ: trang phục giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc dùng thổ cẩm như các dân tộc miền núi chứ không phải vải lụa tơ tằm, kiểu cách cũng khác. Trang phục của người Mường có thể dùng làm hình mẫu, hoặc theo những thiết kế kiểu fantasy như Vài hình ảnh trang phục theo phong cách Đông Sơn

+    Từng nhân vật chính, kế chính và phụ đều phải được xây dựng và định hình rõ ràng. Bạn có quyền tạo ra nhân vật chính toàn năng, nhưng các nhân vật khác cũng phải toàn năng không kém. Tuyệt đối không xây dựng kiểu nhân vật bị ác cảm như Mary Sue hay Harry Stup;  Kiểu nhân vật nữ/nam chính trong sáng thánh thiện, người gặp người yêu, hoa gặp hoa nở; Kiểu nhân vật nữ/nam chính ngu ngơ mà luôn gặp may mắn, ngoài một dàn nam/nữ chính phụ yêu thì người nào cũng ghét…

+   Nói đến nhân vật, không thể bỏ qua tính cách của người Việt thể hiện trong nhân vật đó. Những đức tính như  Trung – Hiếu – Tiết – Nghĩa… là hình mẫu cổ điển xuyên suốt văn học Việt, kiểu nổi loạn trong một chừng mực cũng được chấp nhận. Tôi không khuyến khích các bạn viết kiểu tuyên huấn, nhân vật một bề thiện hoặc ác. Các nhân vật phải hợp lý khi xét bằng phương diện tâm lý con người.

Ví dụ:   nữ chính ở hiện tại con nhà bình thường, thậm chí tiểu thư đài các được cưng chiều, vượt thời gian về quá khứ giết người không chớp mắt, điều binh khiển tướng đánh đâu thắng đó… Nếu muốn cho nữ chính được như vậỵ, hãy xây dựng lại xuất thân của cô ấy là đã từng giết người như trộm cướp khét tiếng, phục vụ quân đội thâm niên, tham gia thực chiến, cảnh sát hình sự…  Hoặc xây dựng một quá trình nữ chính bị đày ải thê thảm, bị đẩy vào đường cùng, bị tước bỏ nhân tính… trước khi trở thành như vậy. Bạn đừng quên, cảnh sát quân nhân giết người lần đầu tiên đôi khi phải điều trị tâm lý, nói chi người bình thường, trừ khi nhân vật của bạn là thái nhân cách bẩm sinh, mà thái nhân cách thì không biết yêu thương bất cứ ai, tức là không có lương tâm và độc ác toàn tập.

+   Tuyệt đối không xây dựng kiểu nhân vật tôn thờ tình yêu như thần thánh, bỏ qua các loại tình cảm khác như tình thân, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước… Nếu có chuyện giành giật trong tình yêu mà bất chấp thủ đoạn, phải đưa thêm nguyên nhân lợi ích nào đó khác, thể hiện được bộ mặt xã hội.

Ví dụ:  truyện dã sử viết về Trần Thủ Độ. Bạn có thể diễn tả Trần Thủ Độ bất chấp mọi thứ vì Trần Thị Dung, nhưng nguyên nhân giành lợi ích quyền lực cho họ Trần phải được đề cao, cùng với nguyên nhân Đại Việt loạn lạc vì triều Lý sa sút nên cần một dòng họ thống trị khác tài năng hơn bảo vệ đất nước…

3. Cốt truyện

Những tình tiết của truyện phải được triển khai phù hợp với tính cách nhân vật. Có thể dựa vào thể loại để phân biệt 3 kiểu truyện như sau: lịch sử và dã sử,  cổ trang dựa vào sử nhưng được biến tấu, cổ trang tự sáng tạo.

3.1. Lịch sử và dã sử

+   Đối với truyện lịch sử phải đảm bảo tính chân thực, độ chính xác của truyện lịch sử cao hơn dã sử rất nhiều, tức là phạm vi mà bạn có thể “xuyên tạc chém gió” sẽ vô cùng hẹp, thậm chí bạn không được thêm bất cứ một nhân vật nào không có trong sử chính thống, những yếu tố huyền ảo, siêu nhiên, thần kỳ… đều bị loại bỏ.  Cho nên, khuyến khích viết truyện dã sử.

Nếu viết truyện về bất cứ nhân vật nào có thật trong lịch sử Việt Nam, nội dung những bộ sử bạn đã đọc sẽ được đưa vào đây. Bởi vì sử sách ghi chép về một triều đại có rất nhiều sự kiện, nên bạn phải lựa chọn những chi tiết chính để không làm truyện bị loãng.  Ngoài nhân vật có thật trong lịch sử, truyện dã sử sẽ có những nhân vật được thêm vào để làm nội dung truyện hấp dẫn hơn

Ví dụ:  Viết về Lý Chiêu Hoàng, nếu như bạn là fan của cặp đôi Trần Cảnh – Phật Kim, không chịu được cái kết như lịch sử, có thể thêm một nhân vật khác có ngoại hình như Phật Kim, được Trần Cảnh gả cho Lê Tần.

+   Đối với truyện dã sử thuộc lớp văn hóa bản địa, đặc biệt là giai đoạn Văn Lang – Âu Lạc, vì sử liệu còn nhiều khiếm khuyết nên việc “chém gió” là không thể tránh khỏi. Viết về thời này vừa dễ vừa khó? Dễ vì có hơn hai ngàn năm để bạn chém. Khó vì phải tự xây dựng cốt truyện, tư liệu văn hóa không chuẩn xác nhưng rất nhiều và cần chọn lọc cẩn thận.  Cho nên, đối với giai đoạn này, khuyến khích viết theo kiểu huyền ảo, phép thuật, thần linh…

+   Bởi vì kiểu truyện dã sử tương đối nhạy cảm, cho nên phải đặc biệt chú ý, đối với những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử dân tộc, như  các vị vua nổi tiếng, những vị tướng tài, những anh hùng có công với đất nước… bạn không nên “xuyên tạc” quá nhiều.

 3.2. Dựa vào lịch sử nhưng được biến tấu

Bạn có thể mượn những tình tiết, nhân vật, địa danh trong lịch sử văn hóa của Việt Nam nhưng nhớ đổi tên và biến tấu cho phù hợp với thế giới mà bạn xây dựng. Làm như vậy bạn đỡ phải suy nghĩ nát óc, cũng không sợ các cụ về vặn cổ. Việc vừa đọc truyện vừa tự hỏi hình mẫu nguyên gốc của nhân vật trong truyện là ai cũng rất thú vị.

Ví dụ:  Nguyễn Xuân Hương, một thiếu nữ tài hoa chốn kinh thành, là con gái quan Gián nghị đại phu Nguyễn Trung. Nàng từng làm thơ đề đền một tướng giặc rằng “Ví đây đổi phận làm trai được. Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”.  Năm 23 tuổi, được Quan gia phong chức Lễ nghi học sĩ tự do ra vào cung cấm, dạy dỗ cung nữ. Ba năm sau, nàng tiến cung với tước hiệu Ỷ Đào Nguyên phi. Vì lần đầu tiên Quan gia gặp nàng, Xuân Hương đứng tựa vào gốc cây đào. Khi Quan gia băng hà, thái tử là con trai nàng mới 10 tuổi lên ngôi, nàng buông rèm nhiếp chính, đưa đất nước vượt qua 2 lần xâm lược của quân Nguyên.

Đối với cốt truyện này cũng có thể viết theo kiểu Parody kết hợp với Out of character những nhân vật trong lịch sử hoặc trong nguyên tác của một tác phẩm văn học khác. Bạn đưa tất cả những nhân vật đó vào trong một truyện, giữ nguyên tên họ và thân phận hoặc thay đổi ít nhiều cho phù hợp nội dung truyện. Nhưng phải chú ý cảnh báo trước cho người đọc, cũng như phải biết giới hạn của việc bôi bác hoặc gây cười, đừng làm truyện trở nên lố bịch và phản cảm, đặc biệt với những nhân vật có vai trò lớn trong lịch sử Việt Nam, những khuôn mẫu đã trở thành kinh điển.

Ví dụ:  Trường Mộng của Lạc Ngân Thiên có yếu tố Parody một vài nhân vật lịch sử như Hồ Nguyên Trừng, Chiêu Thánh, Trần Cảnh… Thanh của Nguyễn Dương Quỳnh có yếu tố Parody nhân vật Kim Trọng và Thúy Vân của Truyện Kiều.

 3.3. Hoàn toàn tự sáng tạo

 +  Tạo ra thế giới của riêng mình, không thuộc bất cứ không gian văn hóa, thời gian văn hóa nào của Việt Nam. Thời gian truyện có thể cho ở tương lai, bối cảnh truyện ở một chiều không gian khác…  Với cách làm này, bạn không cần phải sợ những nét văn hóa Việt Nam sai niên đại, không sợ xuyên tạc lịch sử Việt một cách phi lý… Nhưng khó khăn là xây dựng truyện làm sao để người ta thấy văn hóa Việt, chứ không phải văn hóa Trung Hoa, hay quốc gia nào khác.

Nói chung, với kiểu viết này bạn hoàn toàn tự do về mặt tư tưởng và sáng tạo. Nhưng phải đảm bảo sự hợp lý, hoàn chỉnh và thống nhất của toàn bộ câu chuyện, nếu không sẽ tạo ra một sản phẩm thất bại.

Ví dụ: Nội dung của những tuồng tích cổ như Lưu Bình Dương Lễ, Thoại Khanh Châu Tuấn, Phạm Công Cúc Hoa… đều là kiểu được sáng tạo hoàn toàn.

+   Những truyện ngôn tình đam mỹ cổ trang mà các bạn đọc hiện giờ phần lớn được viết theo kiểu này. Những truyện đó chỉ thể hiện một phần rất nhỏ của văn hóa Trung Hoa, là kiểu văn hóa đại chúng pha tạp không có hệ thống, chuyên sâu và chính xác. Đọc giải trí bình thường thì hoàn toàn có thể, nhưng xin đừng xem ngôn tình đam mỹ là tinh hoa đỉnh cao của văn hóa Trung Hoa, hoặc dựa vào truyện đó để hiểu về văn hóa Trung Hoa.

4. Bối cảnh

Tạo không khí cổ trang cho truyện là một điều khó, tạo không khí cổ trang Việt lại càng khó hơn. Khá nhiều tác giả chỉ chú ý đến nhân vật và cốt truyện mà bỏ qua hoặc xem nhẹ phần bối cảnh, làm cho nét Việt của truyện vô cùng mờ nhạt.

+  Dựa vào cốt truyện để xây dựng bối cảnh phủ hợp. Có thể chia ra bối cảnh chung và bối cảnh riêng.

(1)   Bối cảnh chung thuộc phần định vị chủ thể – thời gian – không gian của truyện. Dựa vào phần định vị này, tìm hiểu sơ lược toàn bộ nền văn hóa Việt Nam thuộc giai đoạn mà bạn định viết

Ví dụ:  Chủ thể: người Kinh, thương nhân, Thời gian: văn hóa Đại Nam, thời Nguyễn, Không gian: miền Nam, vùng Gia Định. Tức là, bạn phải tìm hiểu sơ lược toàn bộ nền văn hóa Việt Nam theo định vị chủ thể – thời gian – không gian như trên, bao gồm tất các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần  như cấu trúc ở phần  2. Nội dung tư liệu.

(2)   Bối cảnh riêng dựa vào từng nhân vật và tình tiết cụ thể của truyện để tìm kiếm tư liệu chuyên sâu.

Ví dụ:  Tô Châu là thương nhân buôn tơ lụa ở thành Gia Định. Chàng yêu một cô đào hát nên không được mẹ chấp thuận vì cho rằng nàng là thân gái “xướng ca vô loài”…  Như vậy, tư liệu cần tìm hiểu là cuộc sống, nghề kinh doanh ở thành Gia Định, nghề kinh doanh, nghề trồng dâu nuôi tằm, các loại tơ lụa, nghệ thuật hát tuồng…

+   Với phần này văn miêu tả sẽ giữ vai trò quan trọng vô cùng. Tả nhiều sẽ thành liệt kê khô khan, phô diễn kiến thức; tả ít không làm nổi bật được bối cảnh Việt. Thường xuyên luyện tập bằng việc đọc và viết là cách duy nhất để làm tốt việc này.

Thông thường thì việc xây dựng bối cảnh giống như vẽ một bức tranh, đầu tiên là phác thảo những nét cơ bản, sau đó tùy theo tình tiết truyện mà đi sau vào nét văn hóa quan trọng. Nên chọn những biểu tượng thường là đại diện điển hình cho văn hóa Việt Nam.

Ví dụ:  viết về làng quê Việt Nam có những đặc trưng như lũy tre, cây đa, cây gạo, cổng làng, ao làng, giếng làng, bến nước… nhà của người Việt như nhà rường ở Huế, nhà 3-5-7 gian và 2 chái, mái đình đài lầu các đều vút cong…

+  Quan điểm thông thường là Việt thì phải giản dị mộc mạc, nhưng điều này không chính xác. Vì xã hội nào cũng có nhiều giai tầng, tạm chia ra là giàu và nghèo. Như vậy, tùy vào xuất thân của các nhân vật mà miêu tả bối cảnh cho phù hợp.

- Quý tộc, người giàu bạn có quyền tả theo kiểu lộng lẫy, mỹ lệ, lung linh, hào nhoáng, xa hoa

- Thường dân, người nghèo thì đơn sơ, bình dị, nhưng cũng không nên nghèo rớt mồng tơi, trừ khi xuất thân nhân vật và nội dung truyện  đòi hỏi như vậy.

+  Nói riêng về bối văn hóa thời Hùng Vương Đông Sơn, trước nay chúng ta đều nghe tổ tiên mình đóng khổ cởi trần, mặc váy áo chui đầu. Bản thân tôi sẽ không viết theo kiểu đó. Viết về thời đại thiếu tư liệu như thế là tôi đã chấp nhận sai lầm. Và tôi chọn sai khi xây dựng một bối cảnh hoành tráng, bi hùng và mỹ lệ.

Tóm lại, để làm tốt việc xây dựng bối cảnh thì bạn phải nắm chắc về tư liệu văn hóa.

III. Cách “ném đá” và “né đá”

Điều kiện tiên quyết để đọc phần này là đọc trước bài viết Nghệ thuật phản hồi của Kal Kally, bài viết này rất chi tiết về các kiểu bình luận của người đọc và cách phản hồi của người viết để không gây ra những cuộc chiến luẩn quẩn vô nghĩa, những thứ tiêu tốn thời gian đôi bên.

Ở đây, tôi chỉ nêu một vài điều cần chú ý khi người đọc bình luận một truyện cổ trang Việt, và cách người viết phòng tránh gạch đá.

1. Cách “ném đá”

Các bình luận này là đi từ góc độ văn hóa Việt. Có thể nói vui là “nghệ thuật vị văn hóa”, chứ không phải kiểu “nghệ thuật vị nghệ thuật” hoặc “nghệ thuật vị nhân sinh”. Bởi vì đánh giá một truyện có nhiều góc độ, nhiều lý thuyết khoa học của các ngành khác nhau, ví dụ như tâm lý, xã hội, nhân học, lịch sử, ngôn ngữ…

-    Xác định truyện có phải là “rác phẩm” hay không, dựa vào bài viết  Phần 1: “Rác phẩm” dưới góc nhìn văn hóa. Tiếp tục xác định tính Việt của truyện, dựa vào bài viết  Phần 2:  Truyện “thuần Việt”  là như thế nào, và Phần 3:  “Kinh nghiệm” viết truyện cổ trang Việt

-    Tuyệt đối không dùng chữ “thuần Việt” chung chung để đánh giá, phải nêu được truyện sai ở chỗ nào: văn phong, nhân vật, tình tiết, bối cảnh. Chỉ rõ cho tác giả, như vậy mới thuyết phục được người khác.

-     Đề xuất cách khắc phục dựa vào những lỗi sai, nếu bạn có khả năng.

Quan điểm của tôi đối với bình luận là giúp đỡ người viết nhận ra cái sai, viết được một truyện Việt thành công, chứ không phải chửi cho sướng miệng, thể hiện cái tôi giỏi giang của mình.

Cần phân biệt việc bình luận bằng “lý trí khách quan” và bình luận bằng “tình cảm chủ quan” như được nói đến ở Phần 4  Vấn đề review và văn phong ngôn tình

2. Cách “né đá”

+   Cảnh báo có quyền năng tuyệt đối, nghĩa là nếu bạn không muốn bị đánh giá là “rác phẩm” hoặc “không phải truyện cổ trang Việt”  chỉ cần nêu cảnh báo ở phần giới thiệu truyện. Bạn sẽ không bao giờ nhận gạch đá, còn kẻ nào ném đá bạn, chỉ cần dùng cảnh báo để phản hồi.

Ví dụ:   Tôi viết vì sở thích, không cần bình luận đánh giá chất lượng hay không;  Đừng đem vấn đề truyện cổ trang Việt để đánh giá truyện của tôi;  Đây là truyện ngôn tình chứ không phải truyện cổ trang Việt;  Đừng xem xét truyện của tôi bằng góc nhìn văn hóa Việt Nam…

Nhược điểm của cách làm này là khả năng viết của bạn sẽ rất khó, thậm chí không bao giờ tiến bộ. Truyện của bạn sẽ được gọi là lai căng, pha trộn mà trở thành lố lăng. Và nhìn theo cách nào đó, bạn đang sỉ nhục truyện mình viết.

Ngoài ra,  cảnh báo cũng có tác dụng khác, chính là giúp cho người đọc không ghét bạn. Nếu như bạn cho chuyện tình tay ba tay tư, nhân vật chính chết, kết thúc bi kịch, tình yêu nam nam hoặc nữ nữ… thì hãy cảnh báo trước.  Điều này sẽ không khiến bất cứ ai tốn thời gian.

Nếu bạn sử dụng một nền văn hóa khác để viết truyện, ví dụ Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hy La, Ai Cập, Bắc Âu, Nam Mỹ, Lưỡng Hà, Anh, Pháp…  thì hãy ghi cảnh báo rõ ràng. Khi đó, truyện của bạn sẽ được xem xét bằng nền văn hóa của quốc gia, khu vực mà bạn đã chọn, chứ không phải bằng văn hóa Việt Nam.

Ví dụ: Legend of Porasitus của Thảo Dương, Helel và Hộp cát giữa thiên hà của Nguyễn Dương Quỳnh sử dụng văn hóa phương Tây, nhưng đều là những truyện chất lượng.

+    Tạo ra thế giới của riêng mình, viết truyện theo kiểu  3.2. Dựa vào lịch sử nhưng được biến tấu, hoặc  3.3. Hoàn toàn tự sáng tạo.  Như đã nói là 2 kiểu viết này vừa dễ vừa khó. Dễ vì khó dùng văn hóa Việt chính thống để ném đá bạn. Khó vì dễ trở thành một thứ tạp nham, nửa nạc nửa mỡ nếu truyện  không xây dựng được bối cảnh văn hóa Việt.

Và  kiểu viết Parody kết hợp với Out of character rất dễ khiến những độc giả nhạy cảm quay lưng với bạn, nếu hình tượng nhân vật mà họ yêu thích bị bạn xuyên tạc quá đáng.

Ví dụ: Nguyễn Trãi là một nhà tư tưởng lớn của dân tộc, được ca ngợi về đức và tài, nhưng bạn lại xây dựng Nguyễn Trãi thành một kẻ tham quan, lộng quyền, háo sắc, đê tiện, mưu đồ soán ngôi…

.

Bài tiếp theo Phần 4  Vấn đề review và văn phong ngôn tình

[ Ngắn ] Ai biết tình ai

.

Tác giả:   Bạch Tử
Thể loại:   nữ nữ, nhẹ nhàng, hiện đại
Độ tuổi:   T/13+

Cảnh báo:  

Nữ chính bị thần kinh, theo nghĩa bóng. Nội dung truyện vớ vẩn bình thường. Đoạn thơ không liên quan nội dung truyện, chỉ lấy cảm hứng cho tên truyện.

Lảm nhảm:

Tính dụ ai đó viết round-robin với mình, mỗi người một nhân vật, nhưng kế hoạch không khả thi vì không có khả năng xây cầu thang và lấp hố. Đành viết oneshot đỡ buồn.

Đừng ai nói mình viết shoujo nha, đau lòng lắm. Thật ra, cũng thấy giống shoujo thiệt.

.

Ai biết tình ai

..

Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra…
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?*

.

- Em thích Diệp.

Cô thì thầm, từ ánh mắt đến nụ cười đều thành thật. Vẻ mặt Diệp sau mấy giây ngạc nhiên chuyển sang bối rối.

- Không cần trả lời em. Đây không phải câu hỏi. Chỉ là em muốn nói vậy thôi.

Cô bình thản cười, kéo tay người kia, đặt vào hộp quà nhỏ màu tím.

- Tặng Diệp làm kỷ niệm. Chắc sau này không còn cơ hội gặp mặt nhau nữa. Diệp giữ gìn sức khỏe.

- Trầm…

- Không cần nói gì hết. Cũng không cần suy nghĩ về điều em nói tối nay. Tạm biệt.

Xiết mạnh bàn tay Diệp, cô buông ra thật nhanh. Mưa lất phất bay dưới đèn đường vàng vọt. Con hẽm nhỏ vắng lặng nghe rõ từng bước chân. Khi cô khuất sau tường rào lạnh lẽo cũng không nghe tiếng Diệp gọi lại. Đứng trong bóng tối, cô thở phào nhẹ nhõm, lòng ngực nhói lên đau đớn.

Cô gặp Diệp lần đầu trong buổi phỏng vấn làm cộng tác viên cho tổ hậu cần của sự kiện VietPride. Cô là người ứng tuyển cuối cùng. Ấn tượng về Diệp là tác phong làm việc chuyên nghiệp, thái độ hòa nhã nhưng nghiêm túc. Gương mặt gầy xương, mẫn tuệ. Giọng nói khá êm, hơi trầm. Một chút lạnh nhạt trong đáy mắt phía sau gọng kính vuông màu bạc.

Thuận lợi vượt qua những câu hỏi, cô chính thức được chọn cùng vài người khác. Sau một tháng làm việc cùng nhau, cô biết thêm nhiều điều về Diệp. Cô ngưỡng mộ Diệp, bị thu hút bởi bản lĩnh xuất sắc của Diệp. Nhưng mối quan hệ chỉ đơn giản là Tổ trưởng và cộng tác viên.

Một lần cả tổ hẹn hò ăn mừng, giữa tiếng ồn của phòng karaoke, trong ánh sáng nhức mắt của đèn màu, Diệp đã hỏi cô, có hơi men xúi giục, thanh âm nhẹ hẫng.

- Em là straight-girl?

Cô nhìn sâu vào mắt Diệp, tự dưng thấy căng thẳng lúng túng.

- Từ trước đến nay em chưa từng thích cô gái nào.

Câu trả lời được chấp nhận. Diệp khẽ cười, quay mặt đi. Cô ngã lưng vào ghế, đầu óc bồng bềnh, cả người mệt mỏi.

Cô không nói dối. Cô không thuộc cộng đồng LGBT, không băn khoăn vì xu hướng tính dục của mình, không khổ sở vì định kiến kỳ thị. Cô đến với VietPride vì ủng hộ cậu bạn thân là người đồng tính. Đây là công tác xã hội cuối cùng hai người cùng tham gia trước khi cô rời khỏi Sài thành.

Tuy nhiên từ buổi tối hôm đó, câu hỏi của Diệp, cùng giọng nói và gương mặt, bắt đầu xuất hiện trong những giấc mơ, lặp đi lặp lại. Không phải ác mộng, cũng không phải ám ảnh, mà là nỗi nhớ.

Cô nhớ Diệp.

Dọn dẹp phòng trọ lần cuối, cô ngồi ngẩn ngơ trước mấy khay rau muống tự trồng. Rau đã già, lá vàng héo úa. Bông của cô không có cơ hội ăn chúng, không bao giờ. Cô trồng chúng sau khi Bông chết. Một việc làm vô nghĩa. Vì  cô không thích rau muống, chỉ có Bông thích.

Bông là con thỏ trắng cô nuôi, thú cưng duy nhất cô nuôi suốt hai mươi lăm năm sống trên đời. Và việc nuôi Bông là một sai lầm khủng khiếp. Bởi vì khi đã yêu thương một thứ gì đó, cô sẽ cần rất nhiều thời gian để quên nó đi.

Cô sợ mất mát.

Bông đã chết mấy tháng ở quê, may là ở quê nên có đất chôn cất tử tế. Nhưng cô vẫn nhận thấy sự mềm mại ấm áp của lớp lông tơ cọ vào lòng bàn tay trong giấc ngủ. Cảm giác đó, giống như lúc Diệp chạm vào tay cô khi băng bó vết thương, nhẹ nhàng cẩn thận.

Hôm ấy là một chiều mưa. Mọi người trong tổ về hết, chỉ còn cô và Diệp sắp xếp dụng cụ. Cô bị mấy đoạn dây chì đâm vào tay, chảy máu. Cô thấy không sao, nhưng Diệp lo lắng.

Cô để Diệp sát trùng vết thương, khẽ hỏi bâng quơ.

- Diệp có người yêu chưa?

- Chưa có. Còn em?

- Không có.

Diệp nhìn cô thật nhanh rồi cúi xuống, dán băng cá nhân.

Cô nhìn mái tóc tém ngắn ôm sát gương mặt Diệp. Những sợi tóc nâu đen không mượt vì những chuyến đi khắp mọi miền đất nước. Cô đã xem tất cả ảnh chụp trên facebook của Diệp, giống như nhìn vào một thế giới khác, khiến cô thán phục say mê. Và cô nhận ra, cuộc sống của hai người khác nhau quá xa.

Cô vươn tay chạm vào tóc Diệp, ngọn tóc đâm vào lòng bàn tay nhộn nhạo, vội rụt lại.

- Bụi.

Cô trả lời cho ánh mắt dò hỏi của Diệp, xoay mặt nhìn cửa sổ. Mưa kéo vệt dài trên tấm kính thủy tinh, loằng ngoằng rối rắm. Không gian chìm trong màn mưa lạnh. Mọi âm thanh đều bị hút mất. Những hình ảnh nhạt nhòa hư ảo.

Diệp đến tìm cô vào ngày thứ ba sau buổi tối đó. Không mang dáng vẻ nhân viên công sở nghiêm trang, đơn giản hơn, như trong những chuyến đi, nhưng vẫn nghiêm túc với áo sơ mi trắng. Buổi gặp được báo trước, không có gì ngạc nhiên.

Cô đặt ly nước lọc lên bàn, ngồi đối diện Diệp trên nền gạch. Phòng trọ nhỏ, không có ghế.

- Em nhất định phải về quê sao?

Diệp hỏi. Cô cười.

- Sài thành làm em phát điên. 7 năm rồi.

Diệp nhìn thẳng vào mắt cô.

- Chuyện em nói lần trước…

- Diệp. Đừng nhắc lại. Em đã nói là Diệp không cần trả lời, không cần suy nghĩ về điều này mà. Em chỉ muốn nói vậy thôi.

- Trầm… em tỏ tình với tôi, nhưng không cho tôi suy nghĩ, không cho tôi trả lời. Em thích tôi, nhưng không cho tôi đến gần em, không cho tôi hiểu em…

-…

- Đây là cái kiểu “thích” gì vậy?

Cô thấy được cơn giận và sự kiềm chế của Diệp, cười giảng hòa.

- Em xin lỗi. Em không có ý đùa giỡn… Em thật sự thích Diệp… Nhưng em…

- Em không nghiêm túc?

“Không phải em không nghiêm túc, mà là em không dám nghiêm túc”

 Cô im lặng. Không giải thích là ngầm đồng ý. Không còn tiếng nói nào nữa, chỉ nghe mưa rào rào đổ trên mái tôn. Không gian thinh lặng bị phá vỡ bởi một câu chúc.

- Em về quê bình an.

Diệp đặt hộp quà nhỏ màu tím lên bàn, giọng chậm rãi.

- Tặng thứ này cho ai mà em thích nghiêm túc. Còn nữa, sau này đừng nói thích ai nếu em không nghiêm túc. Tạm biệt.

- Diệp. Em cảm ơn Diệp rất nhiều.

“Vì đã xuất hiện trong cuộc đời của em, dù là ngắn ngủi, để em biết mình vẫn còn có thể thích một người”.

- Em cũng xin lỗi Diệp rất nhiều.

“Vì em làm Diệp phiền lòng, vì em không thể nghiêm túc bắt đầu mối quan hệ yêu thương với bất cứ ai”

Diệp đứng lên, nhìn cô từ trên cao, khẽ nói.

- Không có gì.

Cánh cửa khép lại. Cô mím môi thở dài, vươn tay mở hộp quà. Chiếc khăn xinh xắn được xếp gọn gàng. Một góc khăn thêu hoa thạch thảo màu tím nhạt, mong lung như khói. Cô chạm vào lớp vải trắng mềm, bàn tay bất giác run rẩy. Nước mắt lặng lẽ rơi xuống, từng giọt từng giọt.

Ngoài trời mưa gió, phòng trọ tối mờ. Ánh lửa nhảy múa trong thau nhôm, cắn nuốt từng thứ cô thả xuống. Giấy vụn, hộp thuốc, túi nhựa… Khói bay luẩn quẩn, lửa sắp lụi tàn. Thứ cuối cùng còn lại trên tay là chiếc khăn thêu hoa thạch thảo.

Cô từng thích một cậu bạn cùng lớp, 7 năm không nói vì sợ bị từ chối, đến  lúc nói ra tình đã không còn, như sương khói tan biến không vương vấn. Bây giờ, cô cũng không biết vì sao mình thích cậu ta. Hai người quá khác nhau. Số lần nói chuyện suốt thời cấp ba đếm trên đầu ngón tay. Lên đại học tình trạng tốt hơn, nhưng nhìn chung vẫn vậy.

Đôi khi nhớ lại vài kỷ niệm đẹp, điều cô tưởng niệm không phải người kia, mà là chính bản thân mình khi đó, có thể yêu thương lo lắng không toan tính, toàn tâm toàn ý đối với một người. Nhưng đời người có được bao nhiêu lần 7 năm.

Cô của hôm nay không như ngày xưa, không đủ can đảm yêu thương hy vọng, không đủ mạnh mẽ vượt qua nghi ngại. Cô không quan tâm định kiến kỳ thị. Điều cô sợ hãi chỉ là chính mình. Tình yêu là thứ mong manh khó tìm, loại người như cô khó lòng chạm đến, càng khó gìn giữ hạnh phúc lâu dài.

Cô không tin mình, cũng không tin người, nên yêu đơn phương là một điều tốt, vì không làm phiền bất cứ ai, vì cô có thể kiểm soát mọi thứ. Nhưng sai lầm vẫn đang lặp lại, cho dù nguyên nhân là khác nhau. Không phải sợ bị từ chối, mà sợ được chấp nhận.

Tất cả cũng vì cô quá ích kỷ và phiền phức.

Cô buông tay để chiếc khăn thêu rơi vào đống lửa. Lưỡi lửa liếm từng sợi vải trắng tinh, tiến dần đến cành hoa thạch thảo mong manh tím nhạt.

Cô khẽ cười.

Kết thúc thế này không phải chuyện xấu. Diệp có thể dễ dàng quên cô. Yêu thương càng sâu, tổn thương càng lớn. Chưa có yêu thương, chưa thể tổn thương.

Cô đứng ở ban công, tay ôm con thỏ Bông bằng vải. Cô không chịu nổi sự cô đơn nên đã mua nó thay cho Bông. Ngoài trời vẫn mưa rả rít. Gió mạnh tạt bụi mưa vào người. Đêm lạnh lẽo.

Thích Diệp vì điều gì? Cô không biết. Nếu cô biết đã không để tình cảm phát triển.

Ngày trước, cô thích cậu bạn kia cũng vậy. Chẳng có một cơ sở nào. Mối tình đơn phương 7 năm hoàn toàn vô nghĩa lý.

Dựa vào tường, cô nhìn cơn mưa, rồi nhìn chiếc khăn bị cháy nham nhở treo trên móc. Nước nhỏ từng giọt từ chiếc khăn vừa giặt sạch xuống sàn, nghe rõ hơn tiếng mưa. Cuối cùng, cô vẫn không nhẫn tâm để đóa thạch thảo cháy thành tro.

Cô khẽ cười, có chút tự giễu.

Lần này sẽ là bao lâu, để quên Diệp?

.

Hết
Đồng Tháp, 10:00 PM, ngày 21 – 09- 2014

.

* Trích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

[ Tự kỷ ] Vấn đề review và văn phong ngôn tình

.

Bài viết trước  Phần 3:  “Kinh nghiệm” viết truyện cổ trang Việt

.

Vấn đề review và văn phong ngôn tình

Được viết bởi:   Bạch Tử

.

I.  Chú ý khi viết review

Khi đánh giá một tác phẩm văn học, một vấn đề rất quan trọng cần chú ý là bạn đang nhìn bằng quan điểm khách quan (lý trí)  hay quan điểm chủ quan (tình cảm)

(1)    Khách quan: dùng lý trí để đánh giá tác phẩm đó có chất lượng hay không, dựa vào những tiêu chuẩn cụ thể được nêu ra từ trước, áp dụng cho mọi tác phẩm như:  văn phong, tình tiết, nhân vật, bối cảnh.

(2)   Chủ quan: dùng tình cảm để xem xét tác phẩm có làm cho bạn yêu – ghét hay không, yêu – ghét đến mức độ nào, yêu – ghét ở điểm nào, vì sao lại như vậy…

Mỗi người đều có lý trí (khách quan) và tình cảm (chủ quan).  Lý trí và tình cảm làm việc theo 2 cách khác nhau, có lúc bổ sung cho nhau, có lúc không bao giờ.

Sự phân biệt giữa truyện “chất lượng” (lý trí) và truyện “yêu – ghét” (tình cảm) rất quan trọng đối với người viết review và đọc review.  Mỗi người có một cách viết review riêng, nhưng chung quy không thể nằm ngoài 2 quan điểm này.

Một bài review nếu có thể nêu được cả ưu điểm và khuyết điểm của tác phẩm, phân tích toàn diện các vấn đề của tác phẩm thì càng có giá trị hơn là chỉ viết về một mặt nào đó, chứng minh được ý kiến của mình bằng những trích dẫn từ tác phẩm thì càng hay, mở rộng được quan điểm của mình bằng cách liên hệ với những tác phẩm khác càng tốt.

Khi bình luận một tác phẩm, bạn phải nêu rõ phần nào là dùng lý trí để đánh giá, phần nào là dùng tình cảm để xem xét, đừng nhập nhằng chúng với nhau. Có như vậy, việc đánh giá mới công bằng đối với tác phẩm và tác giả. Qua đó, cũng giúp người đọc lựa chọn tác phẩm phù hợp với sở thích đọc sách của mình.

Khi review một truyện, sẽ bắt đầu bằng góc nhìn khách quan, phân tích từng phần một như:  văn phong, bối cảnh, nhân vật, tình tiết.  Trong quá trình phân tích khách quan, bạn có thể nêu quan điểm chủ quan của mình rằng có yêu hoặc ghét điều đó hay không, vì sao yêu hoặc ghét… Như vậy, bài review sẽ sinh động hơn là chỉ viết một bề bằng lý trí hoặc bằng tình cảm.

Để review một truyện có nhiều phương pháp, phần khách quan và chủ quan cân bằng nhau, hoặc bên này nhiều hơn bên kia, tùy vào tình cảm mà bạn dành cho truyện. Mỗi người review có một phong cách, tùy vào truyện mà review cho phù hợp. Review không có nghĩa là tóm tắt truyện, bạn có thể kể một phần nội dung (spoil) nhưng không phải là tất cả, hoặc chỉ cần đánh giá tổng quan.

Người review không phải là nhà phê bình văn học chuyên nghiệp, nhưng cần biết những phương pháp phê bình để nâng cao tri thức của mình. Bạn có thể đọc quyển “Phê bình văn học, con vật lưỡng thế ấy – Đỗ Lai Thúy”, hoặc Các lý thuyết phê bình văn học ở tienve

II. Cách thoát khỏi ảnh hưởng của văn phong ngôn tình

Tôi tính luôn cả đam mỹ, bách hợp, tiên hiệp, kiếm hiệp… nhưng gọi ngôn tình cho gọn.

Bản thân tôi đã từng đọc ngôn tình và đam mỹ rất nhiều, và một thời gian văn phong của tôi cũng bị ảnh hưởng bởi chúng. Nhưng may mắn là tôi đã nhận ra và cố gắng tìm cách sửa chữa, không tuyệt đối thành công nhưng cũng tạm ổn. Cách làm này là kinh nghiệm cá nhân, cho nên có thể phù hợp với bạn, hoặc không. Nếu có cách khác hay hơn, xin mời bạn góp ý.

Đầu tiên, phải xem xét là văn phong mượt mà bay bổng, hay là kiểu văn phong bị ảnh hưởng bởi ngôn tình. Nếu sự mượt mà bay bổng là phong cách viết của bạn thì hoàn toàn không sao. Nếu văn phong bị ảnh hưởng ngôn tình thì phải xác định xem là ảnh hưởng bao nhiêu.  Nhưng dù thấp hay cao, bạn cũng phải nhanh chóng dừng việc đọc ngôn tình lại, dừng việc viết lách của bạn lại. Nếu bị ảnh hưởng nhiều thì thời gian rời xa chúng càng lâu. Việc ngừng đọc ngôn tình, và chuyển qua đọc các loại sách khác, đòi hỏi sự kiên trì và quyết tâm của bạn. Cũng giống như món bạn thích ở trước mặt nhưng bạn không được ăn, phải ăn món mình không quen.

Đối với một số người, chỉ đọc ngôn tình, không đọc được sách khác, có thể chuyển sang đọc romance của phương Tây với các tác giả như Jill Barnett, Julie Garwood, Lynsay Sands, Mary Balogh, Sherrilyn Kenyon, Marc Levy…

Đối với các bạn khác thì dễ rồi, có rất nhiều thể loại để đọc. Văn học hiện đại và  kinh điển Việt Nam và thế giới, các tác giả nổi tiếng và sách đảm bảo chất lượng. Các loại sách khoa học chuyên ngành, hoặc thường thức, văn hóa, lịch sử, tâm lý, triết học, nhân học…

Cách làm này là để cân bằng lại sự ảnh hưởng của văn phong, chứ không có nghĩa tôi khuyến khích bạn đi theo bất cứ trào lưu nào. Tốt nhất là sáng tạo cho mình một phong cách riêng, nhưng đừng sáng tạo kiểu lai căng, hãy học hỏi những nhà văn kỳ cựu của Việt Nam.

Cố gắng đọc những cuốn sách về ngôn ngữ học như “Sổ Tay Sửa Lỗi Hành Văn – Cao Xuân Hạo, Trần Thị Tuyết Mai”, “Tiếng Việt, văn Việt, người Việt – Cao Xuân Hạo”, “Dịch thuật và Tự do – Hồ Đắc Túc”…

Sau một thời gian, bạn hãy thử viết lại, một truyện ngắn chẳng hạn và đưa cho một người khác đọc, họ sẽ đánh giá xem văn phong của bạn đã hết bị ảnh hưởng chưa. Nếu chưa, tiếp tục làm theo cách trên.

Đối với những bạn viết truyện, tôi đề nghị hay tìm một hoặc nhiều beta-reader. Và nguyên tắc cũng như phương pháp làm việc của beta-reader cùng với tác giản hư thế này bạn hay đọc bài  viết Beta Readers của Kal Kally và Sou

Quan điểm của tôi đối với văn hóa Trung Hoa chính là:

“Văn hóa Trung Hoa không xấu, nền văn hóa này rất rực rỡ, rất đáng để học hỏi. Cha ông ta đã biết chọn lọc những tinh hoa để tiếp thu, biến những điều này thành của Việt Nam, vậy vì sao thế hệ chúng ta lại không thể? Sợ hãi bị đồng hóa là do bản lĩnh văn hóa kém cỏi, càng sợ hãi, càng thể hiện sự kém cỏi”

Nhưng có một số người, trong một giai đoạn nào đó, và bản thân tôi là ví dụ điển hình,  có một bản lĩnh văn hóa chưa đủ mạnh và vững chắc để chọn lọc cái gì nên học hỏi và cái gì không. Cách khắc phục tình trạng này là tích cực trao dồi tri thức, tích cực đọc sách, xem phim khoa học… Và đến nay tôi vẫn nghĩ là mình học chưa đủ nhiều.

Ngôn tình là văn hóa đại chúng bị pha tạp, đọc ngôn tình để giải trí hoàn toàn không có vấn đề, nhưng đừng xem nó là tinh hoa của văn hóa Trung Hoa, đừng nghĩ rằng qua ngôn tình bạn có thể hiểu được văn hóa Trung Hoa, vì như vậy là sỉ nhục văn hóa Trung Hoa.

..

Lời cuối cho loạt bài viết

Khi viết bài đầu tiên “Rách phẩm” dưới góc nhìn văn hóa, tôi hoàn toàn không có ý định kéo dài thành một loạt bài, đơn giản là chia sẻ cảm nghĩ và quan điểm, nhưng chắc do mình nhiều chuyện quá, thích chém gió, lo chuyện bao đồng, nên mới lắm chữ để viết đến 4 bài dễ nhận gạch đá như thế.

Nhưng tôi thật sự hy vọng loạt bài viết có thể giúp ích cho bạn trong việc viết lách, trong việc tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Tôi rất thích một câu nói của nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên Jacques Dournes là  

“Nếu phải hiểu để mà yêu, thì lại phải yêu để mà hiểu”

Phải hiểu văn hóa Việt Nam, văn hóa của dân tộc mình, để mà yêu quý, và khi đã yêu quý văn hóa Việt Nam, bạn sẽ có động lực để mà tìm hiểu sâu hơn nữa.

[ Tự kỷ ] Truyện “thuần Việt” là như thế nào

.

Bài viết trước  Phần 1:  “Rác phẩm” dưới góc nhìn văn hóa

.

Truyện “thuần Việt” là như thế nào

Được viết bởi:   Bạch Tử

.

Từ “thuần Việt” gần đây được sử dụng rất nhiều trên các diễn đàn văn học mạng để đánh giá một truyện có bị ảnh hưởng bởi trào lưu văn học nước ngoài hay không, đặc biệt là bị ảnh hưởng bởi ngôn tình, đam mỹ của Trung Quốc. Nhưng truyện “thuần Việt” là như thế nào thì lại không có tiêu chí rõ ràng, gây ra những tranh cãi luẩn quẩn giữa người đọc và người viết.

Tôi quan niệm rằng, khoa học nhân văn là ngành khoa học không có sự đúng tuyệt đối 100% cho nên bài viết này cũng không đúng 100%. Nhưng khi viết về một điều gì đó, bạn phải dựa trên một hệ thống cơ sở lý luận, phải có lập trường quan điểm. Và lý thuyết tôi sử dụng để khảo sát vấn đề truyện “thuần Việt” trong bài viết này là thuyết cấu trúc – loại hình về văn hóa. tức là xem xét truyện “thuần Việt” dưới góc nhìn văn hóa Việt Nam.

Chú ý về việc sử dụng từ ngữ của bài viết: Việt được dùng tương đương với Việt Nam;  Tác phẩm văn học được dùng tương đương với truyện, chỉ xét thể loại văn xuôi.

I. Khái quát về văn hóa Việt

Bài viết trước Phần 1 “Rác phẩm” dưới góc nhìn văn hóa đã nêu ra định nghĩa chung về văn hóa, hệ tọa độ văn hóa, các đặc trưng và chức năng của văn hóa. Cho nên, bài viết này sẽ đi thẳng vào việc định vị văn hóa Việt Nam, không lặp lại những vấn đề lý thuyết trên.

1. Định vị văn hóa Việt

1.1. Chủ thể

Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước trọng tĩnh. Chủ thể văn hóa là 54 tộc người sống trên lãnh thổ Việt Nam, chủ thể chính là tộc người Kinh, tạo nên một tính thống nhất cao – một tính thống nhất trong sự đa dạng – của con người và văn hóa Việt Nam.

Cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư , do đó phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên.

Cách nhận thức hình thành lối tư duy tổng hợp, kéo theo tính biện chứng. Người nông nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng lẻ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng.

Cách tổ chức cộng đồng là đề cao nguyên tắc trọng tình, dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Tư duy tổng hợp và biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình, dẫn đến lối sống linh hoạt. Sống tình cảm, con người phải tôn trọng và cư xử bình đẳng, dẫn đến tâm lí trọng cộng đồng, tập thể. Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện, thiếu tôn trọng pháp luật, tính tổ chức kém.

Cách ứng xử với môi trường xã hội là thái độ dung hợp trong tiếp nhận các luồng văn hóa ngoại lai, thái độ mềm dẻo hòa hiếu nhưng không kém phần quyết liệt trong chiến tranh.

1.2. Không gian

Hoàn cảnh địa lý – khí hậu Việt Nam có ba đặc điểm cơ bản: xứ nóng, sông nước, nơi giao điểm của các nền văn hóa văn minh. Xét từ cội nguồn, không gian văn hóa Việt Nam vốn được định hình trên nền của không gian văn hóa Đông Nam Á cổ đại, khu vực cư trú của người Bách Việt cổ. Nhưng quá trình phát triển lịch sử – xã hội của Việt Nam đã bị chi phối mạnh bởi các quan hệ giao lưu văn hóa rộng rãi với Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Phương Tây. Việt Nam được chia ra 6 vùng văn hóa như sau:

1. Vùng văn hóa Tây Bắc: là khu vực bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn sông Hồng (lưu vực sông Đà) kéo dài tới Bắc Thanh Nghệ. Ở đây có trên 20 tộc người cư trú trong đó tộc Thái, Mường có thể xem là đại diện. Biểu tượng cho vùng văn hóa này là hệ thống mương phai ngăn suối dẫn nước vào đồng, nghệ thuật trang trí tinh thế trên khăn piêu Thái, cặp váy Mường, âm nhạc khèn sáo, múa xòe…

2. Vùng văn hóa Việt Bắc: là khu vực bao gồm hệ thống núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng. Cư dân vùng này chủ yếu là người Tày, Nùng, trang phục giả dị với màu đen màu chàm, lễ hội Lồng tồng, hệ thống chữ Nôm Tày…

3. Vùng văn hóa Bắc Bộ:  có hình tam giác bao gồm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã với với tộc người Kinh sống quần tụ thành làng xã. Đây là vùng đất đai trù phú, từng là nôi của văn hóa Đông Sơn thượng cổ, văn hóa Đại Việt trung cổ… với những thành tựu phong phú về mọi mặt. Vùng này là cội nguồn của văn hóa Việt ở Trung bộ và Nam bộ sau này.

4. Vùng văn hóa Trung Bộ: là một dải đất hẹp chạy dài theo ven biển từ Quảng Bình tới Bình Thuận. Do khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn nên con người cần cù, hiếu học, thạo nghề đi biển, bữa ăn giàu chất biển, thích ăn cay (bù cho cá lạnh). Trước khi người Kinh đến, nơi đây thời gian dài từng là địa bàn cư trú của người Chăm, với nền văn hóa đặc sắc.

5. Vùng văn hóa Tây Nguyên: nằm trên sườn Đông của dải Trường Sơn, bắt đầu từ vùng núi Bình – Trị – Thiên với trung tâm là các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Ở đây có trên 20 tộc người nói ngôn ngữ Môn – Khmer và Nam Đảo cư trú. Vùng văn hóa đặc sắc với những trường ca sử thi (khan…), cồng chiêng, lễ hội đâm trâu, rừng…

6. Vùng văn hóa Nam Bộ: nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long, khí hậu hai mùa mưa – nắng, mênh mông sông nước và kênh rạch. Tộc người Kinh, Hoa, Chăm tới khai phá nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống cư dân bản đại Khmer, Mạ, Xtieng, Mnong, Choro. Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven sông ven lộ, bữa ăn giàu thủy sản, tính cách con người phóng khoán, tín ngưỡng tôn giáo phong phú đa dạng, tiếp cận và đi đầu trong giao lưu hội nhập với văn hóa phương Tây.

1.3. Thời gian

Tiến trình văn hóa Việt Nam có thể chia ra làm 3 lớp văn hóa, với 6 giai đoạn như sau:

1. Lớp văn hóa bản địa, có 2 giai đoạn:

+  Giai đoạn văn hóa tiền sử:  hình thành nghề nông nghiệp lúa nước, trồng dâu nuôi tằm làm đồ mặc và tục uống chè, thuần dưỡng gia súc như trâu gà, làm nhà sàn và dùng các cây thuốc

+  Giai đoạn văn hóa Văn Lang – Âu Lạc:  đỉnh cao thứ nhất trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Kế tục giai đoạn tiền sử về không gian, thời gian và thành tựu văn hóa. Địa bàn cư trú của người Nam Á – Bách Việt cổ. Thời gian khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN. Nông nghiệp đạt đến đỉnh cao, thành tựu chủ yếu là nghề luyện kim, có thể có chữ viết (chữ Khoa đẩu)

2. Lớp văn hóa giao lưu văn hóa với Trung Hoa và khu vực, có 2 giai đoạn:

Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là song song tồn tại 2 xu hướng trái ngược nhau: 1 bên là xu hướng Hán hóa về mặt văn hóa, còn bên kia xu hướng chống Hán hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng của Trung Hoa.

+  Giai đoạn văn hóa thời chống Bắc thuộc: khởi đầu trước công nguyên và kéo dài đến khi Ngô Quyền giành lại được đất nước. Có 4 đặc điểm gồm: (1) Ý thức đối kháng bất khuất và thường trực đối với mối nguy cơ xâm lăng từ phong kiến phương Bắc, thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa  (2) Sự suy tàn của văn minh Văn Lang – Âu Lạc  (3) Mở đầu cho quá trình giao lưu tiếp nhận văn hóa Trung Hoa và khu vực, cũng như quá trình văn hóa Việt Nam hội nhập với khu vực (Đông Nam Á, Ấn Độ)

+  Giai đoạn văn hóa Đại Việt:  là đỉnh cao thứ hai trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Chỉ sau 3 triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê lo việc gây dựng, văn hóa Việt Nam phát triển nhanh chóng, đạt thành tựu rực rỡ về mọi mặt ở 3 triều đại Lý – Trần và Lê . Thời Lý – Trần: Phật giáo hưng thịnh, tinh thần “Tam giáo đồng quy”  được hình thành trên cơ sở truyền dân tộc. Thời Lê:  Xu hướng tiếp nhận văn hóa Trung Hoa – Hán hóa trở thành chủ đạo, hình thành văn hóa Nho giáo. Sử dụng chữ Hán, hình thành và sử dụng chữ Nôm.

3. Lớp văn hóa giao lưu với văn hóa phương Tây, có 2 giai đoạn:

Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là song song tồn tại 2 xu hướng trái ngược nhau: 1 bên là xu hướng Âu hóa về mặt văn hóa, còn bên kia là xu hướng chống Âu hóa và Việt Nam hóa các ảnh hưởng của phương Tây.

+   Giai đoạn văn hóa Đại Nam: (1) Nhà Nguyễn thống nhất về mặt lãnh thổ và tổ chức hành chính của Việt Nam từ Đồng Văn đến Cà Mau (2)  Sau thời hỗn loạn Lê – Mạc và Trịnh – Nguyễn, Nho giáo được khôi phục nhưng đi vào suy tàn (3) Khởi đầu quá trình hội nhập của nền văn hóa phương Tây, văn hóa Việt Nam hội nhập vào nền văn hóa nhân loại.

+  Giai đoạn văn hóa hiện đại: là giai đoạn văn hóa đang định hình, tiếp nhận tư tưởng K.Marx, Lênin

2. Bản sắc văn hóa Việt

Dựa vào định nghĩa văn hóa, có thể định nghĩa văn hóa Việt Nam như sau:

Văn hóa Việt Nam là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do người Việt sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa người Việt với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

Việc nhận diện một giá trị văn hóa có phải là đặc trưng bản sắc hay không có thể dựa vào 2 dấu hiệu (1) Là một giá trị tinh thần đã tồn tại tương đối lâu dài (2) Có tác dụng chi phối các đặc điểm khác của văn hóa (các cách ứng xử và hoạt động, các giá trị vật chất)

Đặc trưng bản sắc không phải là cái duy nhất có ở nền văn hóa đó. Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc trong tính tổng thể của nó, trong sự phối hợp của cả hệ thống các đặc trưng thì phải cho phép phân biệt được nền văn hóa đó với nền văn hóa khác, dân tộc đó với các dân tộc khác.

Bản sắc văn hóa là cái gốc, cái căn tính của một dân tộc nên nó âm tính. Bản sắc văn hóa mang tính ổn định, lâu bền tương đối, nghĩa là nó vẫn có thể được điều chỉnh, biến đổi, nhưng sự thay đổi này rất chậm và khó khăn. Ví dụ, Việt Nam ngày nay đang tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa, nhưng cái căn tính nông dân vẫn ẩn tàng và biểu hiện qua ứng xử, hành động, suy nghĩ của mọi người Việt Nam.

Bản sắc văn hóa của một dân tộc, rất gần với tính cách dân tộc. Tính cách dân tộc là những đặc trưng bản sắc quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến cách tư duy, cách ứng xử và cách hành động của con người.

Dựa vào các điều trên, ta có thể định nghĩa:

Bản sắc văn hóa (cultural identity) của dân tộc Việt Nam là một hệ thống các giá trị tinh thần ổn định tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, tạo nên tính đặc thù của dân tộc Việt Nam, khu biệt dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác.

Ta có thể hình dung văn hóa Việt Nam là nhiều vòng tròn đồng tâm, tính từ trong ra ngoài, trong đó:

(1) Bản sắc văn hóa Việt Nam là vòng tròn nhỏ nhất ở giữa, chỉ chứa các giá trị tinh thần thuộc về con người Việt Nam, mà phải là giá trị cốt lõi.

(2) Vòng tròn thứ 2 là hệ tính cách văn hóa, không chứa các giá trị vật chất, nhưng có thể chứa các giá trị tinh thần không trực tiếp thuộc về con người, ví dụ như tính sông nước.

(3) Vòng tròn thứ 3 là hệ giá trị văn hóa, bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần ổn định lâu dài, được hình thành từ truyền thống văn hóa bản địa.

(4) Vòng tròn thứ 4 là hệ giá trị văn hóa vật chất và tinh thần ổn định lâu dài, đã được Việt Nam hóa, được hình thành nhờ sự giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á, phương Tây.

(5) Vòng tròn thứ 5 là hệ giá trị vật chất và tinh thần thay đổi nhanh chóng theo thời gian…

Hệ thống giá trị văn hóa, vật chất và tinh thần, của một dân tộc gồm có các thành phần: (1) Văn hóa nhận thức (nhận thức về vũ trụ – nhận thức về con người), (2) Văn hóa Tổ chức cộng đồng (VH tổ chức đời sống tập thể – VH tổ chức đời sống cá nhân) (3) Văn hóa ứng xử (VH ứng xử với môi trường xã hội – VH ứng xử với môi trường tự nhiên)

Bài viết này không xét đến hệ thống giá trị văn hóa Việt Nam, cả giá trị vật chất và tinh thần, một cách chi tiết, vì điều này có lượng kiến thức rất đồ sộ. Cho nên, đề nghị các bạn tìm đọc các quyển sách Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng, Phan Ngọc, Lê Văn Chưởng; Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm; Tiến trình văn hóa Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần.

II. Khái quát về truyện “thuần Việt”

1. Định nghĩa truyện “thuần Việt”

“Thuần Việt” là một khái niệm chưa có định nghĩa rõ ràng. Ta biết “thuần” là tính từ, có nghĩa là “không lẫn lộn”  theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, “chịu nghe theo; quen, thạo và đã luyện tập nhiều; đều một loạt, một thứ” theo từ điển Lạc Việt. Nghĩa là, ở một mức độ nào đó, có thể hiểu “thuần Việt” tức là chỉ những thứ cốt lõi, bản địa, đồng nhất, không bị pha tạp, lẫn lộn của người Việt, ví dụ: từ thuần Việt.

Như vậy, “thuần Việt” có thể xem là tương đương với khái niệm bản sắc văn hóa Việt, chỉ những giá trị tinh thần cốt lõi của người Việt. Tác phẩm văn học là một thành tố của hệ thống văn hóa, nên mang đầy đủ những đặc trưng và chức năng của văn hóa, định vị được bằng hệ tọa độ văn hóa.

Suy ra, ta có thể định nghĩa truyện “thuần Việt” như sau:

Truyện “thuần Việt” là sản phẩm văn hóa thuộc lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ, xếp vào thành phần Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, do người Việt Nam sáng tạo qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Truyện thuần Việt thể hiện được hệ thống giá trị tinh thần cốt lõi của văn hóa Việt Nam, tạo được sự khác biệt giữa truyện của dân tộc Việt Nam với truyện của các dân tộc khác.

Nói ngắn gọn, truyện “thuần Việt” là tác phẩm văn học do người Việt sáng tạo thể hiện được bản sắc văn hóa Việt.

Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có 3 đặc trưng cơ bản sau (1) Tính biểu trưng cao thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa với các cấu trúc cân đối hài hòa (2) Giàu chất biểu cảm – sản phẩm tất yếu của một nền văn hóa trọng tình (3) Tính động, linh hoạt, thể hiện trong cấu trúc ngữ pháp, khả năng khái quát cao.  Ngoài ra, truyền thống văn chương Việt Nam thiên về thơ ca hơn văn xuôi.

2. Định vị truyện “thuần Việt”

Truyện “thuần Việt” được định vị chung nhất như sau: (1) Chủ thể: truyện do người Việt sáng tạo, nói về người Việt (2) Không gian: thuộc lĩnh vực văn học Việt, thể hiện văn hóa Việt trên lãnh thổ Việt Nam (3) Thời gian: được viết trong bất cứ giai đoạn nào thuộc tiến trình văn hóa Việt, hoặc nội dung phản ánh được văn hóa Việt trong bất cứ giai đoạn nào thuộc tiến trình văn hóa Việt.

Dựa vào định vị chung này, có thể loại bỏ những truyện thuộc dạng sau: (1)  Chủ thể: không do người Việt sáng tạo, hoặc không nói về người Việt  (2)  Không gian: không thuộc lĩnh vực văn học Việt, hoặc không thể hiện văn hóa Việt trên lãnh thổ Việt Nam  (3)  Thời gian: không được viết trong bất cứ thời kỳ nào thuộc tiến trình văn hóa Việt, nội dung không phản ánh được văn hóa Việt trong bất cứ giai đoạn nào thuộc tiến trình văn hóa Việt.

Có thể thấy, số lượng tác phẩm văn học được xem là truyện “thuần Việt”  sẽ vô cùng ít.  Các tiêu chí đánh giá một truyện “thuần Việt” là vô cùng khắc khe.

Trong trường hợp này, truyện “thuần Việt” được mặc định có đầy đủ 4 đặc trưng của văn hóa Việt Nam về tính nhân sinh, tính lịch sử, tính hệ thống và tính giá trị. Mức độ ổn định và hoàn chỉnh của 4 đặc trưng này đối với từng truyện “thuần Việt” có thể khác nhau, nhưng không được dưới mức trung bình, hoặc rơi vào trường hợp “rác phẩm”.

III. Kết luận

Qua những điều đã nêu về văn hóa Việt Nam và truyện “thuần Việt”, có thể thấy thứ duy nhất không thể thay đổi trong một truyện “thuần Việt” chính là giá trị tinh thần cốt lõi của bản sắc văn hóa Việt Nam mà truyện truyền tải, còn những mặt khác đều có thể thay đổi.

Bởi vì văn hóa Việt Nam tính theo (1) chủ thể là một cộng đồng người đa sắc tộc, mỗi tộc người có bản sắc riêng (2) không gian lãnh thổ gồm 6 vùng văn hóa, mỗi vùng có những đặc điểm riêng (3) thời gian là một tiến trình văn hóa gồm 3 lớp – 6 giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc trưng riêng.

Ngoại trừ bản sắc văn hóa Việt Nam, những giá trị vật chất và tinh thần khác đều không thuần nhất, không đồng đều ở các dân tộc, các vùng miền, các giai đoạn.

Cho nên, không thể có một kiểu truyện “thuần Việt” tuyệt đối. Nói cách khác, chỉ có truyện “thuần Việt” tương đối, khi đặt truyện đó vào một hệ tọa độ cụ thể, xem xét 4 đặc trưng một cách chi tiết.

Nếu sử dụng vấn đề “thuần Việt” để bắt đầu đánh giá một truyện, sẽ bỏ qua tất cả các giá trị vật chất và tinh thần khác nằm ngoài “vòng tròn bản sắc văn hóa Việt Nam”. Dẫn đến việc thiếu tính bao quát, thiếu tính thuyết phục, không thể xem xét toàn diện hệ thống giá trị văn hóa mà tác phẩm thể hiện.

Để tránh khỏi tình trạng này, khi xem xét một tác phẩm văn học, nhìn theo hướng văn hóa, dựa vào những vòng tròn đồng tâm của văn hóa, sẽ phải khảo sát theo chiều từ ngoài vào trong, từ vòng tròn thứ (5) đến vòng tròn thứ (1).

Đề xuất:

Không dùng khái niệm truyện “thuần Việt”, chỉ dùng khái niệm truyện Việt.

Truyện Việt là sản phẩm văn hóa thuộc lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ, xếp vào thành phần Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, do người Việt Nam sáng tạo qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Truyện Việt thể hiện được một hệ thống giá trị tinh thần của văn hóa Việt Nam, tạo được sự khác biệt tương đối giữa truyện của dân tộc Việt Nam với truyện của các dân tộc khác.

Định vị truyện Việt (1) Chủ thể: do người Việt Nam sáng tạo (2) Không gian: thuộc lĩnh vực văn học Việt Nam (3) Thời gian: được viết trong bất cứ giai đoạn nào thuộc tiến trình văn hóa Việt Nam.

Để đánh giá tính lịch sử, tính nhân sinh và tính hệ thống của một truyện Việt là cao hay thấp, mời xem lại Phần 1 của loạt bài viết. Ở đây, chỉ đánh giá tính giá trị khi đi sâu vào tác phẩm.

Để đánh giá một truyện thể hiện được văn hóa Việt Nam đến mức độ nào, tức là chạm được đến vòng tròn giá trị thứ mấy từ (5) đến (1), phải tổng hợp nhiều yếu tố, các yếu tố này phải tạo nên một hệ thống chặt chẽ. Những gì được nêu ra đây chỉ là khái quát chung nhất, tùy từng trường hợp cụ thể mà có bảng khảo sát riêng, xem xét mức độ hoàn chỉnh của từng yếu tố.

- Văn phong: tuân thủ quy tắc sử dụng tiếng Việt về mặt từ ngữ và ngữ pháp đối với chữ Quốc ngữ, không chấp nhận bất cứ ngôn ngữ nào khác. Thậm chí việc đặt tên truyện bằng ngoại ngữ cũng không được phép, trừ khi những từ ngoại ngữ là thuật ngữ khoa học, hoặc có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung truyện như tên bài thơ, bài hát… Ngoài ra, nếu là tác phẩm viết bằng chữ Hán Nôm thì phải tuân thủ nguyên tắc của chữ Hán Nôm.

- Nhân vật:  mang đặc điểm tâm lý, sinh lý của con người là chủ thể thuộc nền văn hóa Việt Nam, tuy nhiên vẫn cho phép nhân vật không phải người Việt. Giá trị tinh thần mà nhân vật thể hiện phản ảnh được phần nào hệ tính cách văn hóa Việt Nam. Tạo hình nhân vật, xuất thân, hành động, ngôn ngữ… phải được thể hiện bằng văn phong, bối cảnh và tình tiết phù hợp

-  Bối cảnh: miêu tả được những giá trị vật chất và tinh thần của văn hóa Việt Nam. Những giá trị này được sáng tạo và tích lũy lâu dài, là nét đặc trưng của văn hóa Việt. Bởi vì giá trị vật chất thuộc vòng tròn thứ (3), cho nên bối cảnh thể hiện những giá trị có thể biến đổi theo thời gian. Tuy nhiên, bối cảnh phải tuyệt đối đúng với lịch sử văn hóa Việt Nam trong từng giai đoạn mà nhân vật sinh sống. Việc đầu tư cho bối cảnh để thấy được sự “thuần Việt” là vô cùng quan trọng, đòi hỏi phải nghiên cứu tỉ mỉ . Nếu bối cảnh do tác giả sáng tạo, hoặc thuộc thế giới tương lai, vẫn phải thể hiện sự hợp lý với những nét văn hóa Việt Nam được miêu tả.

- Tình tiết: không mâu thuẫn với những giá trị tinh thần của văn hóa Việt, giá trị tinh thần này thể hiện ở nhân vật của truyện, gắn chặt với thời đại mà nhân vật được đặt vào. Thông điệp truyền tải xuyên suốt thể hiện được văn hóa đặc thù của giai đoạn văn hóa Việt Nam cụ thể. Những tình tiết phải có tính hệ thống, hợp lý, không mâu thuẫn với văn phong, bối cảnh và nhân vật.

Ngoài lề:

Thông thường, xem xét một truyện được “Việt” đến mức độ nào thường dành cho cổ trang, thật ra truyện hiện đại cũng phải được tính đến. Nhưng khả năng của người viết bài này có hạn, nên xin miễn cho việc phân chia chi tiết.

Việc truyện Việt bị ảnh hưởng bởi một trào lưu văn học của nước ngoài không chỉ gần đây mới xuất hiện, ngày trước văn học phương Tây, manga Nhật Bản… đã ảnh hưởng rất nhiều trong giới viết lách trên mạng, nhưng sự ảnh hưởng này không bị gạch đá quá đáng, còn việc người viết bị ảnh hưởng bởi ngôn tình đam mỹ lại bị đả kích mạnh mẽ. Nguyên nhân bề nổi là vì giá trị của ngôn tình đam mỹ không cao, sự phản ứng quá khích của những người Việt đọc loại truyện này khi bị chỉ trích… Còn nguyên nhân sâu xa, có lẽ chính là tâm lý “bài Hoa”, hay xu hướng chống “Hán hóa”. Kiểu tâm lý này gần như là một nét văn hóa của người Việt, bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử văn hóa địa lý chính trị… của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với Trung Hoa suốt mấy ngàn năm.

Văn hóa Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc là một kiểu “đại đồng tiểu dị”. Người viết chắc tay, kiến thức sâu rộng có thể khai thác được những điểm “tiểu dị”, còn người viết không tốt thì chỉ thể hiện được vấn đề “đại đồng”. Nếu muốn đánh giá người khác, cũng cần một chút tế nhị, cũng phải xem xét trình độ của người viết. Có thể, chính bản thân người viết cũng không biết là mình đang sai ở đâu, sai cái gì. Cho nên, hy vọng những người biết hãy rộng lòng mà chỉ dẫn cho người chưa biết. Nếu đã lịch sự trao đổi, mà người viết vẫn không tiếp thu, thì xem như con bệnh đã hết thuốc chữa, không cần nhọc lòng.

Bản thân tôi nghĩ, văn hóa Trung Hoa không xấu, nền văn hóa này rất rực rỡ, rất đáng để học hỏi. Cha ông ta đã biết chọn lọc những tinh hoa để tiếp thu, biến những điều này thành của Việt Nam, vậy vì sao thế hệ chúng ta lại không thể? Sợ hãi bị đồng hóa là do bản lĩnh văn hóa kém cỏi, càng sợ hãi, càng thể hiện sự kém cỏi.

Câu kết:

“Nếu không phải truyện Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc bất cứ nước nào khác, thì đó là truyện Việt Nam”. 

.

Bài tiếp theo Phần 3:   “Kinh nghiệm” viết truyện cổ trang Việt

.

Tài liệu tham khảo:

1.Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Cơ sở văn hóa Việt Nam, giáo trình Nhập môn Văn hóa học của GS Trần Ngọc Thêm.

2. Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do GS Trần Ngọc Thêm chủ biên

3. Từ điển Lạc Việt, Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu

2. Kinh nghiệm đọc và viết truyện của bản thân + kiến thức 4 năm tích góp trên giảng đường do thầy cô truyền dạy + kiến thức tự đào bới sau khi ra trường

[ VHH ] Nếp cũ – Toan Ánh

.

nepcu

Trọn bộ Nếp Cũ của nhà nghiên cứu Toan Ánh gồm nhiều quyển. Tôi biết được 13 quyển, chia thành nhiều chủ đề. Những bài viết này thuộc dạng biên khảo nên không khô khan, chuyên khảo sát về văn hóa miền Bắc, văn hóa gốc của Việt Nam. Giọng văn đơn giản nhưng mượt mà, tạo cảm giác khá dễ chịu khi đọc.

6 quyển tôi không viết giới thiệu ở đây là:  Hội hè Việt Nam (quyển thượng và hạ), Tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng và hạ), Làng xóm Việt Nam, Con người Việt Nam. Vì những quyển này đọc cách đây 4-5 năm rồi, không nhớ rõ nữa.

1. Tiết tháo một thời, tinh thần trọng nghĩa phương Đông: Những bài viết kiểu kể những sự tích của nhiều vùng miền, nhiều nhân vật, như một loại truyện truyền kỳ hoặc giai thoại

2. Cầm, Kỳ, Thi, Họa:  Nội dung sách như cái tên. Phần Cầm được viết nhiều nhất, đề cập đến âm nhạc nói chung chứ không chỉ riêng về đàn, tức là tính cả những chuyện ca hát, của người Kinh và các dân tộc thiểu số… Phần Kỳ không nói đến cờ vây, mà là cờ tướng, đặc biệt là những trận đấu cờ người được miêu tả ở các hội hè cúng Thành hoàng làng rất thú vị, ngoài ra còn các loại cờ khác có ở Việt Nam của trẻ em.  Phần Thi viết về  thơ, các thể thơ khác nhau, câu đối… các thú tiêu khiển như thả thơ, đố thơ, tập Kiều… Phần Họa viết về tranh dân gian là chủ yếu vì Việt Nam gần như không có một nền thư họa như Trung Quốc, hoặc đã có nhưng bị phá hủy do chiến tranh, không giữ được.

3. Trẻ em chơi: Các trò chơi của trẻ em ở mọi lứa tuổi, trò chơi ngoài trời, trò chơi dưới nước, trò chơi trong các dịp hội hè đặc biệt

4. Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình và lễ tết hội hè: Nói về mọi mặt đời sống gia đình, thành phần gia đình, sinh con, nuôi con từ thời còn trong bụng mẹ đến lúc trưởng thành, gây dựng con cái, cả việc dạy học  thi cử ngày xưa, phong tục trong xây nhà dựng cửa. Các dịp lễ tết của người Việt được nói đến rất đầy đủ suốt cả năm, Tết năm mới của một vài dân tộc thiểu số cũng được nhắc đến.

5. Bó hoa Việt Bắc: Nói về những người phụ nữ miền Bắc của những vùng quê nổi tiếng đi vào ca dao thành ngữ. Qua quyển sách này thấy được cuộc sống của người dân quê rất bình dị mộc mạc và tươi đẹp. Tuy nhiên, cuộc sống của người phụ nữ lại không được may mắn bởi vì xã hội cổ truyền trọng nam khinh nữ, cho dù khi còn trẻ chị em vẫn trêu chọc các chàng trai bằng câu hát thì về nhà chồng là gánh cả giang sơn nhà chồng, khổ sở cùng cực.

6. Trong họ ngoài làng, Ta về ta tắm ao ta, Phong tục xưa đối với phụ nữ Việt Nam: Viết về cách xưng hô của người Việt, cách đối xử của mọi người vào những năm đầu thế kỷ 20. Những biểu tượng văn hóa của làng quê Việt như cây đa, đình làng, ao làng, sông làng, giếng nước, bến đò, lũy tre, làng dưới nước… Phong tục đối với phụ nữ là một phần rất ngắn, nói chung là đọc quyển 5 thì chi tiết hơn.

7. Hương nước hồn quê: Gồm 3 phần. Gương xưa tích cũ như việc Hòn Vọng Phu, vượt Vũ Môn, trẻ mục đồng… gắn với những câu ca dao được lưu truyền. Trong nếp sông nói với những thói xấu của phụ nữ, đàn ông, cờ bạc, rượu chè… Ca dao tục ngữ địa phương từ Bắc chí Nam, ngoài ra có phần thưởng thức trà và tục ăn trầu cau.

Tóm lại, đây là bộ sách rất có ích đối với việc tìm hiểu phong tục tập quán truyền thống của người Việt đầu thế kỷ 20, có rất nhiều ca dao tục ngữ thơ văn. Cho dù tôi không tham dự được vào cuộc sống này, không hít thở được bầu không khí này, nhưng vẫn cảm được một chút gì đó về những nét văn hóa đẹp.